MỞ ĐẦU Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Châu thổ sông Hồng với diện tích 1420,76km2. Ninh Bình có địa hình khá phức tạp (miền núi, bán sơn địa, chiêm trũng và đồng bằng ven biển), chịu ảnh hƣởng trực tiếp của khí hậu Bắc Bộ và khu Bốn. Mạng lƣới sông ngòi chằng chịt, đan xen với chế độ thuỷ triều phức tạp bao gồm tổ hợp các dạng lũ lớn: lũ sông Hoàng Long từ Hoà Bình đổ về, lũ nội địa sông Đáy, lũ sông Hồng qua sông Đào Nam Định chuyển sang, thuỷ triều biển. Diện tích tự nhiên 1392 km2, tỉnh Ninh Bình có 1 thành phố (Ninh Bình), 1 thị xã (Tam Điệp) và 6 huyện (Hoa Lƣ, Nho Quan, Gia Viễn, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn) [30].
Huyện Kim Sơn đƣợc thành lập năm 1892 và là huyện ven biển duy nhất của tỉnh Ninh Bình. Có chiều dài 15 km bờ biển, nằm kẹp giữa sông Đáy ở phía Đông và sông Càn ở phía Tây, nên phần lớn đất đai của huyện đƣợc hình thành bởi quá trình bồi tụ của hai con sông này tạo nên. Lịch sử phát triển huyện Kim Sơn gắn liền với 9 lần quai đê lấn biển. Cho đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.747 ha, trong đó vùng bãi bồi Kim Sơn có diện tích khoảng 6.Toàn bộ khu vực bãi ngang gồm thị trấn Bình Minh, các xã: xã Kim Đông, xã Kim Hải, xã Kim Trung, đảo Cồn Nổi và vùng biển Ninh Bình đã đƣợc UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Tại đây thiên nhiên, sự sống còn đa dạng và hoang sơ, thuận lợi phát triển loại hình du lịch sinh thái đồng quê. Thắng cảnh khu vực ven biển Kim Sơn nằm trong quy hoạch du lịch của tỉnh Ninh Bình bao gồm bãi biển, rừng phòng hộ, các đảo Cồn Nổi, Cồn Mờ, cửa sông Đáy, cảnh quan đê biển, khu vực nuôi trồng và khai thác thủy hải sản.Trên cơ sở xác định vị trí, điều kiện tự nhiên có những thuận lợi nên huyện Kim Sơn đã phát triển nuôi trồng thủy sản. Kim Sơn là vùng đất mở ra đời từ công cuộc khẩn hoang vùng bãi biển đầy lau sậy và sú vẹt dƣới sự tổ chức và điều hành của Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ năm Kỷ Tỵ, 1809. Vùng đất này, hàng năm tốc độ bồi tụ tiến ra biển từ 80 – 100 m.
Chính vì thế mà Kim Sơn gắn với lịch sử của những cuộc chinh phục đất hoang bồi - quai đê lấn biển. Cây cói đã gắn bó với ngƣời dân Kim Sơn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách đây gần 3 thế kỷ. Qua những lần quai đê lấn biển, Kim Sơn đã thực hiện tốt phƣơng châm "lúa lấn cói, cói lấn biển", với diện tích lúc nhiều nhất lên đến hơn 1.000 ha, sản lƣợng đạt hơn 10. Các mặt hàng chiếu cói, sản phẩm mỹ nghệ từ cói đã xuất khẩu đến nhiều thị trƣờng trên Thế giới.
Nhƣng, môi trƣờng ven biển khắc nghiệt nhƣ thiếu nƣớc ngọt không cấy lúa đƣợc, nhiều nơi cây cói mọc đƣợc nhƣng vì đất bị phèn, chua và mặn dẫn đến năng suất thấp và tình trạng lỗ vốn, nhiều diện tích bị bỏ hoang. Do ảnh hƣởng của gió bão, rét đậm rét hại đã làm 242 ha rừng trồng ngập mặn ở ven biển Kim Sơn bị chết với số lƣợng năm sau cao hơn năm trƣớc (Sở NN-PTNT Ninh Bình). Năm 2001, từ chủ trƣơng cho phép chuyển đổi ruộng trồng lúa, cói sang nuôi trồng thủy sản, ở đây hình thành nghề nuôi tôm sú và tập trung phần lớn là ở ba xã bãi ngang gồm xã Kim Trung, xã Kim Ðông, xã Kim Hải giáp mặt với biển [30]. Theo báo cáo của Tổng cục Thuỷ sản, trong 10 năm qua (2001-2011), sản lƣợng nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã tăng 4 lần - từ hơn 700 nghìn tấn lên khoảng 3 triệu tấn, với tốc độ tăng bình quân 15,7%/năm.
Trong đó, sản lƣợng NTTS ven biển (mặn, lợ) chiếm gần 30%. Tuy nhiên, hoạt động này thƣờng xuyên chịu tác động của thời tiết và thiên tai do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra, các biểu hiện nhƣ nƣớc biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn, triều cƣờng và các hiện tƣợng thời tiết cực đoan khác. Những yếu tố này có thể ảnh hƣởng trực tiếp hay gián tiếp lên NTTS (ở dạng đơn lẻ hay kết hợp) gây nhiều thiệt hại về kinh tế, xã hội cho cộng đồng ngƣời nuôi. Trƣớc những tác động của BĐKH, nhiệt độ tăng dẫn đến sự gia tăng các cơn bão ảnh hƣởng đến vùng ven biển, mực nƣớc biển dâng, rét đậm rét hại là những nguy cơ hiện hữu sẽ tác động mạnh mẽ đến ngành kinh tế nuôi trồng thủy sản vùng ven biển nói chung và huyện Kim Sơn nói riêng [10].
Vì vậy, việc “Đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng trong nuôi trồng thủy sản huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình” là hết sức cần thiết và quan trọng. Kết quả của việc đánh giá đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng của khu vực này sẽ giúp cho tỉnh Ninh Bình có cơ sở quy hoạch, định hƣớng phát triển có hiệu quả ngành nuôi trồng thủy sản tại vùng đất này. Đây cũng chính là lí do mà học viên chọn đề tài luận 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn tốt nghiệp của mình là: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình”. Do quy mô mới chỉ dừng lại ở một luận văn thạc sỹ nên nội dung nghiên cứu đƣợc khu trú với quy mô không gian gồm 3 xã: xã Kim Trung, xã Kim Ðông, xã Kim Hải và quy mô thời gian là 5 năm từ 2008– 2012.
Quy mô luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu và khu vực nghiên cứu, chƣơng này nói về một số nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến vấn đề BĐKH và nuôi trồng thủy sản và tổng quan về khu vực nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu, chƣơng này mô tả phƣơng pháp đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do của IPCC 2007. Kết quả nghiên cứu, nêu lên kết quả đạt đƣợc của luận văn.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tính dễ bị tổn thƣơng 1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng Tính dễ bị tổn thƣơng(TDBTT) là mức độ tổn thất, suy thoái của hệ thống, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của nó trƣớc các tác động từ bên ngoài. Có một số định nghĩa phổ biến về Tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc đƣa ra nhƣ sau: Tính dễ bị tổn thƣơng là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất (do tai biến, khả năng chống chịu và phục hồi(Clark, 1998) [21].
Tính dễ bị tổn thƣơng là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội) trƣớc những tác động tiêu cực của tai biến (NOAA, 1999) [26]. Tính dễ bị tổn thƣơng là khả năng bị tổn thƣơng của hệ thống tự nhiên – xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và phục hồi từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống (Kasperson, 2001) [30]. Tính dễ bị tổn thƣơng do Biến đổi khí hậu là mức độ mà hệ thống dễ bị tác động và không có khả năng chống chịu trƣớc những tác động bất lợi (IPCC, 2007) [23]. Tính dễ bị tổn thƣơng là mức độ cảm nhận, ứng phó, chống đỡ, tổn thất và phục hồi của tài nguyên – môi trƣờng biển trƣớc các tác động từ bên ngoài (Mai Trọng Nhuận, 2004) [5].
Các định nghĩa đều nói lên sự tác động của các yếu tố bên ngoài đến đối tƣợng tổn thƣơng và sự phục hồi hay ứng phó lại của chính nó. Các nghiên cứu trên Thế Giới Hiện nay, việc đánh giá tác động của BĐKH và nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng trong các ngành, các lĩnh vực cụ thể là một trong những vấn đề cấp bách nhất liên quan đến việc xây dựng chiến lƣợc ứng phó với BĐKH của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối với lĩnh vực thủy sản cũng vậy, hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến các vấn đề này. Cụ thể: Theo nghiên cứu của Hargreaves and Tucker (2003), nghiên cứu về đặc tính sinh học của con tôm, nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ tăng trung bình theo kịch bản BĐKH có thể nằm trong phạm vi chịu đựng của con tôm nuôi, nhƣng nó lại tác động lên quá trình trao đổi chất của đối tƣợng nuôi, ảnh hƣởng đến hệ số chuyển hóa thức ăn, ảnh hƣởng đến tốc độ sinh trƣởng, làm suy giảm hệ thống miễn dịch và tăng nguy cơ dịch bệnh đối với tôm nuôi [25].
Nghiên cứu của tổ chức Worldfish Center (2006) đã chỉ ra các yếu tố BĐKH tác động đến nghề nuôi trồng thủy sản nhƣ: Nhiệt độ tăng, nƣớc biển dâng, lƣợng mƣa thay đổi, bão tố và hạn hán bất thƣờng. Tƣơng tự với nghiên cứu này tác giả De Silva và đồng tác giả (2009) cũng chỉ ra các yếu tố chính của BĐKH tác động đến đến nghề nuôi trồng thủy sản gồm: Nƣớc biển dâng, nhiệt độ tăng, mƣa bất thƣờng và các yếu tố cực đoan nhƣ bão tố …[28]. Một nghiên cứu điển hình về đánh giá tác động của BĐKH đến nuôi trồng thủy sản đó là nghiên cứu của Heather Cornell (2012) về việc xây dựng mô hình đánh giá tác động của BĐKH đó là mô hình DPSIR ( Động lực - Driver; Áp lực – Pressure; Hiện trạng – Status; Tác động – Impact; Ứng phó – Response) mô hình đã đƣa ra cái nhìn tổng quát về BĐKH và các hoạt động ứng phó với BĐKH của nghề nuôi trồng thủy sản tại biển Salish Canada. Nghiên cứu tổng quan của De silva và Soto (2009), De silva, Cochrane và đồng tác giả (2009), Badject và đồng tác giả (2009) về tác động tiềm tàng của BĐKH lên ngành thủy sản cho thấy các nghiên cứu tác động của BĐKH lên ngành thủy sản đều chứa đựng các yếu tố không chắc chắn, dựa trên các tính chất đặc thù của giống loài và mối tƣơng quan với môi trƣờng tự nhiên để phán đoán [19].
Trong nghiên cứu khả năng bị tổn thƣơng của các quốc gia đối với tác động của BĐKH lên ngành thủy sản của Allison và các cộng sự ((2009). Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng phƣơng pháp đánh giá dựa vào chỉ số xuất phát từ khái niệm của IPCC (2001), V = f(E,S,AC) và đề xuất hàm tác động 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.