Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản tại huyện Kim Sơn, Ninh Bình

Luận văn thạc sĩ đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Biến đổi khí hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2014

78
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về tính dễ bị tổn thƣơng

1.1.1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng

1.1.2. Các nghiên cứu trên Thế Giới

1.1.3. Các nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Ninh Bình

1.2.1. Hiện trạng phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Ninh Bình

1.2.2. Điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ phát triển nuôi trồng thủy sản

1.2.3. Tình hình môi trƣờng và dịch bệnh

1.2.4. Lao động trong nuôi trồng thủy sản

1.2.5. Hiện trạng áp dụng khoa học công nghệ trong NTTS

1.2.6. Đánh giá chung về hiện trạng nuôi trồng thủy sản

1.2.7. Kết quả đạt đƣợc

1.2.8. Những khó khăn hạn chế

1.2.9. Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản ở Ninh Bình

1.2.10. Quan điểm về phát triển nuôi trồng thủy sản

1.2.11. Nội dung quy hoạch phát triển

1.2.12. Các chƣơng trình, dự án hỗ trợ NTTS

1.3. Tình hình biến đổi khí hậu tại tỉnh Ninh Bình

1.3.1. Biểu hiện của BĐKH trong những năm gần đây

2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỐ LIỆU

2.1. Phƣơng pháp đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng

2.2. Phƣơng pháp luận

2.3. Xây dựng chỉ số độ phơi nhiễm (E)

2.4. Xác định biến thành phần độ nhạy (S)

2.5. Xác định biến thành phần khả năng thích ứng (AC)

2.6. Nguồn số liệu và phƣơng pháp xử lý

2.6.1. Nguồn số liệu

2.6.2. Phƣơng pháp xử lý số liệu

2.7. Xây dựng chỉ số dễ bị tổn thƣơng

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm vùng nghiên cứu

3.2. Đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động nuôi trồng thủy sản trong những năm gần đây

3.3. Đánh giá mức độ tổn thƣơng do tác động của BĐKH đến lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình

3.3.1. Kết quả tính toán độ phơi nhiễm (E)

3.3.2. Kết quả tính toán độ nhạy cảm (S)

3.3.3. Kết quả tính toán khả năng thích ứng (AC)

3.3.4. Kết quả tính toán tính dễ bị tổn thƣơng (V)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá tính dễ bị tổn thương nuôi trồng thủy sản

Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Tính dễ bị tổn thương (TDBTT) được hiểu là mức độ tổn thất và khả năng phục hồi của hệ thống nuôi trồng thủy sản trước các tác động từ bên ngoài. Việc đánh giá này không chỉ giúp nhận diện các rủi ro mà còn cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược ứng phó hiệu quả.

1.1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản

Tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản được định nghĩa là khả năng của hệ thống nuôi trồng thủy sản chịu đựng và phục hồi trước các tác động tiêu cực từ môi trường. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh đều có thể làm gia tăng tính dễ bị tổn thương này.

1.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại Ninh Bình

Ninh Bình là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, tình hình phát triển ngành này đang gặp nhiều thách thức do biến đổi khí hậu, như nước biển dâng và thời tiết cực đoan. Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương là cần thiết để bảo vệ và phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản tại đây.

II. Các thách thức trong đánh giá tính dễ bị tổn thương nuôi trồng thủy sản

Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này không chỉ đến từ môi trường mà còn từ các yếu tố kinh tế và xã hội. Việc nhận diện và phân tích các yếu tố này là rất quan trọng để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương

Các yếu tố như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, và sự thay đổi trong chính sách quản lý đều có thể ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương của ngành nuôi trồng thủy sản. Những yếu tố này cần được phân tích kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về mức độ tổn thương của hệ thống.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản

Biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến nuôi trồng thủy sản, như nước biển dâng, nhiệt độ tăng cao và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Những tác động này không chỉ làm giảm sản lượng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

III. Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản

Để đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc xây dựng chỉ số đánh giá sẽ giúp xác định mức độ tổn thương và khả năng thích ứng của hệ thống.

3.1. Xây dựng chỉ số độ phơi nhiễm E

Chỉ số độ phơi nhiễm (E) được xây dựng dựa trên các yếu tố như mức độ tác động của biến đổi khí hậu và các yếu tố môi trường khác. Việc xác định chỉ số này giúp đánh giá mức độ tổn thương của hệ thống nuôi trồng thủy sản.

3.2. Đánh giá độ nhạy cảm S và khả năng thích ứng AC

Đánh giá độ nhạy cảm (S) và khả năng thích ứng (AC) là hai yếu tố quan trọng trong việc xác định tính dễ bị tổn thương. Độ nhạy cảm phản ánh khả năng của hệ thống chịu đựng các tác động, trong khi khả năng thích ứng cho thấy khả năng phục hồi của hệ thống trước các biến đổi.

IV. Ứng dụng thực tiễn của đánh giá tính dễ bị tổn thương

Kết quả của việc đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản có thể được ứng dụng vào thực tiễn để xây dựng các chiến lược phát triển bền vững. Những thông tin này sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn trong việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản.

4.1. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng

Kết quả nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý trong việc xây dựng các chính sách phát triển ngành nuôi trồng thủy sản. Những thông tin này sẽ giúp cải thiện khả năng chống chịu của hệ thống trước các tác động từ môi trường.

4.2. Các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong nuôi trồng thủy sản

Để giảm thiểu rủi ro trong nuôi trồng thủy sản, cần áp dụng các biện pháp như cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao nhận thức của người dân và áp dụng công nghệ mới. Những biện pháp này sẽ giúp tăng cường khả năng thích ứng của hệ thống.

V. Kết luận và tương lai của đánh giá tính dễ bị tổn thương

Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản là một công cụ quan trọng giúp nhận diện và quản lý rủi ro. Tương lai của ngành nuôi trồng thủy sản phụ thuộc vào khả năng ứng phó với các thách thức từ biến đổi khí hậu và các yếu tố môi trường khác.

5.1. Tương lai của ngành nuôi trồng thủy sản

Ngành nuôi trồng thủy sản cần phải thích ứng với những thay đổi từ môi trường và biến đổi khí hậu. Việc áp dụng các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương sẽ giúp ngành này phát triển bền vững hơn trong tương lai.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản. Các nghiên cứu này sẽ giúp cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng các chính sách và chiến lược phát triển ngành nuôi trồng thủy sản.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Châu thổ sông Hồng với diện tích 1420,76km2. Ninh Bình có địa hình khá phức tạp (miền núi, bán sơn địa, chiêm trũng và đồng bằng ven biển), chịu ảnh hƣởng trực tiếp của khí hậu Bắc Bộ và khu Bốn. Mạng lƣới sông ngòi chằng chịt, đan xen với chế độ thuỷ triều phức tạp bao gồm tổ hợp các dạng lũ lớn: lũ sông Hoàng Long từ Hoà Bình đổ về, lũ nội địa sông Đáy, lũ sông Hồng qua sông Đào Nam Định chuyển sang, thuỷ triều biển. Diện tích tự nhiên 1392 km2, tỉnh Ninh Bình có 1 thành phố (Ninh Bình), 1 thị xã (Tam Điệp) và 6 huyện (Hoa Lƣ, Nho Quan, Gia Viễn, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn) [30].

Huyện Kim Sơn đƣợc thành lập năm 1892 và là huyện ven biển duy nhất của tỉnh Ninh Bình. Có chiều dài 15 km bờ biển, nằm kẹp giữa sông Đáy ở phía Đông và sông Càn ở phía Tây, nên phần lớn đất đai của huyện đƣợc hình thành bởi quá trình bồi tụ của hai con sông này tạo nên. Lịch sử phát triển huyện Kim Sơn gắn liền với 9 lần quai đê lấn biển. Cho đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.747 ha, trong đó vùng bãi bồi Kim Sơn có diện tích khoảng 6.Toàn bộ khu vực bãi ngang gồm thị trấn Bình Minh, các xã: xã Kim Đông, xã Kim Hải, xã Kim Trung, đảo Cồn Nổi và vùng biển Ninh Bình đã đƣợc UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Tại đây thiên nhiên, sự sống còn đa dạng và hoang sơ, thuận lợi phát triển loại hình du lịch sinh thái đồng quê. Thắng cảnh khu vực ven biển Kim Sơn nằm trong quy hoạch du lịch của tỉnh Ninh Bình bao gồm bãi biển, rừng phòng hộ, các đảo Cồn Nổi, Cồn Mờ, cửa sông Đáy, cảnh quan đê biển, khu vực nuôi trồng và khai thác thủy hải sản.Trên cơ sở xác định vị trí, điều kiện tự nhiên có những thuận lợi nên huyện Kim Sơn đã phát triển nuôi trồng thủy sản. Kim Sơn là vùng đất mở ra đời từ công cuộc khẩn hoang vùng bãi biển đầy lau sậy và sú vẹt dƣới sự tổ chức và điều hành của Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ năm Kỷ Tỵ, 1809. Vùng đất này, hàng năm tốc độ bồi tụ tiến ra biển từ 80 – 100 m.

Chính vì thế mà Kim Sơn gắn với lịch sử của những cuộc chinh phục đất hoang bồi - quai đê lấn biển. Cây cói đã gắn bó với ngƣời dân Kim Sơn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách đây gần 3 thế kỷ. Qua những lần quai đê lấn biển, Kim Sơn đã thực hiện tốt phƣơng châm "lúa lấn cói, cói lấn biển", với diện tích lúc nhiều nhất lên đến hơn 1.000 ha, sản lƣợng đạt hơn 10. Các mặt hàng chiếu cói, sản phẩm mỹ nghệ từ cói đã xuất khẩu đến nhiều thị trƣờng trên Thế giới.

Nhƣng, môi trƣờng ven biển khắc nghiệt nhƣ thiếu nƣớc ngọt không cấy lúa đƣợc, nhiều nơi cây cói mọc đƣợc nhƣng vì đất bị phèn, chua và mặn dẫn đến năng suất thấp và tình trạng lỗ vốn, nhiều diện tích bị bỏ hoang. Do ảnh hƣởng của gió bão, rét đậm rét hại đã làm 242 ha rừng trồng ngập mặn ở ven biển Kim Sơn bị chết với số lƣợng năm sau cao hơn năm trƣớc (Sở NN-PTNT Ninh Bình). Năm 2001, từ chủ trƣơng cho phép chuyển đổi ruộng trồng lúa, cói sang nuôi trồng thủy sản, ở đây hình thành nghề nuôi tôm sú và tập trung phần lớn là ở ba xã bãi ngang gồm xã Kim Trung, xã Kim Ðông, xã Kim Hải giáp mặt với biển [30]. Theo báo cáo của Tổng cục Thuỷ sản, trong 10 năm qua (2001-2011), sản lƣợng nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã tăng 4 lần - từ hơn 700 nghìn tấn lên khoảng 3 triệu tấn, với tốc độ tăng bình quân 15,7%/năm.

Trong đó, sản lƣợng NTTS ven biển (mặn, lợ) chiếm gần 30%. Tuy nhiên, hoạt động này thƣờng xuyên chịu tác động của thời tiết và thiên tai do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra, các biểu hiện nhƣ nƣớc biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn, triều cƣờng và các hiện tƣợng thời tiết cực đoan khác. Những yếu tố này có thể ảnh hƣởng trực tiếp hay gián tiếp lên NTTS (ở dạng đơn lẻ hay kết hợp) gây nhiều thiệt hại về kinh tế, xã hội cho cộng đồng ngƣời nuôi. Trƣớc những tác động của BĐKH, nhiệt độ tăng dẫn đến sự gia tăng các cơn bão ảnh hƣởng đến vùng ven biển, mực nƣớc biển dâng, rét đậm rét hại là những nguy cơ hiện hữu sẽ tác động mạnh mẽ đến ngành kinh tế nuôi trồng thủy sản vùng ven biển nói chung và huyện Kim Sơn nói riêng [10].

Vì vậy, việc “Đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng trong nuôi trồng thủy sản huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình” là hết sức cần thiết và quan trọng. Kết quả của việc đánh giá đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng của khu vực này sẽ giúp cho tỉnh Ninh Bình có cơ sở quy hoạch, định hƣớng phát triển có hiệu quả ngành nuôi trồng thủy sản tại vùng đất này. Đây cũng chính là lí do mà học viên chọn đề tài luận 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn tốt nghiệp của mình là: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình”. Do quy mô mới chỉ dừng lại ở một luận văn thạc sỹ nên nội dung nghiên cứu đƣợc khu trú với quy mô không gian gồm 3 xã: xã Kim Trung, xã Kim Ðông, xã Kim Hải và quy mô thời gian là 5 năm từ 2008– 2012.

Quy mô luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu và khu vực nghiên cứu, chƣơng này nói về một số nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến vấn đề BĐKH và nuôi trồng thủy sản và tổng quan về khu vực nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu, chƣơng này mô tả phƣơng pháp đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do của IPCC 2007. Kết quả nghiên cứu, nêu lên kết quả đạt đƣợc của luận văn.

8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tính dễ bị tổn thƣơng 1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng Tính dễ bị tổn thƣơng(TDBTT) là mức độ tổn thất, suy thoái của hệ thống, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của nó trƣớc các tác động từ bên ngoài. Có một số định nghĩa phổ biến về Tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc đƣa ra nhƣ sau: Tính dễ bị tổn thƣơng là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất (do tai biến, khả năng chống chịu và phục hồi(Clark, 1998) [21].

Tính dễ bị tổn thƣơng là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội) trƣớc những tác động tiêu cực của tai biến (NOAA, 1999) [26]. Tính dễ bị tổn thƣơng là khả năng bị tổn thƣơng của hệ thống tự nhiên – xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và phục hồi từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống (Kasperson, 2001) [30]. Tính dễ bị tổn thƣơng do Biến đổi khí hậu là mức độ mà hệ thống dễ bị tác động và không có khả năng chống chịu trƣớc những tác động bất lợi (IPCC, 2007) [23]. Tính dễ bị tổn thƣơng là mức độ cảm nhận, ứng phó, chống đỡ, tổn thất và phục hồi của tài nguyên – môi trƣờng biển trƣớc các tác động từ bên ngoài (Mai Trọng Nhuận, 2004) [5].

Các định nghĩa đều nói lên sự tác động của các yếu tố bên ngoài đến đối tƣợng tổn thƣơng và sự phục hồi hay ứng phó lại của chính nó. Các nghiên cứu trên Thế Giới Hiện nay, việc đánh giá tác động của BĐKH và nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng trong các ngành, các lĩnh vực cụ thể là một trong những vấn đề cấp bách nhất liên quan đến việc xây dựng chiến lƣợc ứng phó với BĐKH của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối với lĩnh vực thủy sản cũng vậy, hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến các vấn đề này. Cụ thể: Theo nghiên cứu của Hargreaves and Tucker (2003), nghiên cứu về đặc tính sinh học của con tôm, nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ tăng trung bình theo kịch bản BĐKH có thể nằm trong phạm vi chịu đựng của con tôm nuôi, nhƣng nó lại tác động lên quá trình trao đổi chất của đối tƣợng nuôi, ảnh hƣởng đến hệ số chuyển hóa thức ăn, ảnh hƣởng đến tốc độ sinh trƣởng, làm suy giảm hệ thống miễn dịch và tăng nguy cơ dịch bệnh đối với tôm nuôi [25].

Nghiên cứu của tổ chức Worldfish Center (2006) đã chỉ ra các yếu tố BĐKH tác động đến nghề nuôi trồng thủy sản nhƣ: Nhiệt độ tăng, nƣớc biển dâng, lƣợng mƣa thay đổi, bão tố và hạn hán bất thƣờng. Tƣơng tự với nghiên cứu này tác giả De Silva và đồng tác giả (2009) cũng chỉ ra các yếu tố chính của BĐKH tác động đến đến nghề nuôi trồng thủy sản gồm: Nƣớc biển dâng, nhiệt độ tăng, mƣa bất thƣờng và các yếu tố cực đoan nhƣ bão tố …[28]. Một nghiên cứu điển hình về đánh giá tác động của BĐKH đến nuôi trồng thủy sản đó là nghiên cứu của Heather Cornell (2012) về việc xây dựng mô hình đánh giá tác động của BĐKH đó là mô hình DPSIR ( Động lực - Driver; Áp lực – Pressure; Hiện trạng – Status; Tác động – Impact; Ứng phó – Response) mô hình đã đƣa ra cái nhìn tổng quát về BĐKH và các hoạt động ứng phó với BĐKH của nghề nuôi trồng thủy sản tại biển Salish Canada. Nghiên cứu tổng quan của De silva và Soto (2009), De silva, Cochrane và đồng tác giả (2009), Badject và đồng tác giả (2009) về tác động tiềm tàng của BĐKH lên ngành thủy sản cho thấy các nghiên cứu tác động của BĐKH lên ngành thủy sản đều chứa đựng các yếu tố không chắc chắn, dựa trên các tính chất đặc thù của giống loài và mối tƣơng quan với môi trƣờng tự nhiên để phán đoán [19].

Trong nghiên cứu khả năng bị tổn thƣơng của các quốc gia đối với tác động của BĐKH lên ngành thủy sản của Allison và các cộng sự ((2009). Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng phƣơng pháp đánh giá dựa vào chỉ số xuất phát từ khái niệm của IPCC (2001), V = f(E,S,AC) và đề xuất hàm tác động 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ