CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương do BĐKH Khái niệm về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) đã có nhiều thay đổi trong những năm qua. Việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến TDBTT phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu sao cho phù hợp với các ngành, lĩnh vực khác nhau và các quan điểm tiếp cận trong việc đánh giá TDBTT đã dần được hoàn thiện hơn, mang tính toàn diện và đa chiều hơn như tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường, con người … qua đó xác định được chi tiết hơn các yếu tố và nguyên nhân gây nên thiệt hại cho đối tượng nghiên cứu trước những tác động của BĐKH. Trong nghiên cứu này, các khái niệm được trích dẫn tại “Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH", được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa UNDP và Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE), gọi tắt là SREX Việt Nam [8]. Báo cáo này quy tụ sự đóng góp của trên 40 chuyên gia trong nước và quốc tế nhằm phác họa chi tiết kiến thức về BĐKH và thiên tai ở Việt Nam tại thời điểm hiện tại.
Cụ thể như sau: + Tình trạng dễ bị tổn thương: là xu hướng hay khuynh hướng bị ảnh hưởng xấu. Khuynh hướng này cấu thành một đặc tính bên trong của các yếu tố ảnh hưởng. Trong lĩnh vực rủi ro thiên tai, điều này bao gồm các đặc tính của một người/đối tượng hoặc một nhóm/đối tượng và tình hình của họ có ảnh hưởng đến khả năng của họ để dự đoán, đối phó với, chống lại, và phục hồi từ các tác động có hại của hiện tượng vật lý (Wisner và nnk, 2004). Tình trạng dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường và các quy trình [8].
+ Hiểm họa (Hazard - H): là sự xuất hiện tiềm tàng của các hiện tượng tự nhiên hoặc do con người gây ra có thể gây thương tật, chết người hoặc ảnh hưởng sức khỏe, làm hư hại hoặc mất mát tài sản, cơ sở hạ tầng, sinh kế, cung cấp dịch vụ và tài nguyên môi trường [37] + Mức độ phơi bày trước hiểm họa (Exposure - E): Mức độ phơi bày (trước hiểm họa) được sử dụng để chỉ sự hiện diện (theo vị trí) của con người, sinh kế, các dịch vụ môi trường và các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng, hoặc các tài sản kinh tế, xã hội hoặc văn hóa ở những nơi có thể chịu những ảnh hưởng bất lợi bởi các hiện tượng tự 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên và vì thế có thể là đối tượng của những tổn hại, mất mát, hư hỏng tiềm tàng trong tương lai [37] + Tính nhạy (Sensitivity - S): được hiểu là xu hướng tự nhiên của con người, cơ sở hạ tầng và môi trường bị ảnh hưởng bởi một hiện tượng nguy hiểm do thiếu sức chống chịu và xu hướng của xã hội và hệ sinh thái bị thiệt hại như là hậu quả của các yếu tố nội tại và điều kiện bên ngoài dẫn đến dễ nhận thấy rằng những hệ thống như vậy một khi bị tác động sẽ sụp đổ hoặc thiệt hại nghiêm trọng và bị phá hủy do ảnh hưởng của một hiểm họa [37] + Khả năng chống chịu (Adaptive capacity - AC): là khả năng của một hệ thống và các hợp phần của nó có thể phán đoán, hấp thụ, điều chỉnh và vượt qua những ảnh hưởng của một hiện tượng nguy hiểm một cách kịp thời và hiệu quả kể cả khả năng giữ gìn, hồi phục và tăng cường các cấu trúc và chức năng cơ bản quan trọng của hệ thống đó [37] 1.2 Một số nghiên cứu tính dễ bị tổn thương trên thế giới Có thể nói rằng, hệ thống cơ sở hạ tầng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của một vùng miền hay rộng hơn là một quốc gia nào đó, với những đặc thù riêng có của mình, hệ thống cơ sở hạ tầng phần lớn đều phơi lộ trước những thay đổi của khí hậu. Ban đầu, hầu hết các nghiên cứu đánh giá TDBTT chỉ chú trọng đến sự tổn thương về mặt cơ học của hệ thống cơ sở hạ tầng mà chưa xét đến các yếu tố kinh tế - xã hội, môi trường và con người. Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Harvey và nnk [36] với đối tượng đánh giá là hệ thống giao thông đô thị mà cụ thể là đường giao thông với bộ dữ liệu gồm có: số liệu về độ tuổi, chiều dài tuyến đường, kết cấu mặt đường (vật liệu, độ nhám mặt đường, chiều dày các lớp, độ bền…). Dựa trên kết quả mô hình ứng với kịch bản SRES A2 của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) với các thông số như: nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự thay đổi trong công tác bảo trì mặt đường và các chi phí phục hồi chức năng như là một kết quả của sự BĐKH, dân cư, nhu cầu giao thông vận tải. Ngoài ra, có một sự giảm nhỏ (từ 0% đến 3%) trong ngân sách bảo trì đường và phục hồi chức năng của đường dựa trên sự thay đổi trong các yếu tố khí hậu. Kết quả này phản ánh khí hậu Úc ngày càng nóng hơn và khô hơn làm cho mặt đường bị xuống cấp. Năm 2007, Tổ chức nghiên cứu khoa học công nghiệp Úc (CISRO) đã tiến hành đánh giá rủi ro cho hệ thống cơ sở hạ tầng tại bang Victoria, Úc.
Với đối tượng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cơ sở hạ tầng được đánh giá đa dạng hơn cụ thể như lĩnh vực tài nguyên nước (hồ chứa, cống, hệ thống tiêu thoát lũ), lĩnh vực năng lượng (điện, ga và dầu), lĩnh vực thông tin liên lạc (mạng di động, cáp truyền hình), lĩnh vực giao thông (đường bộ, đường sắt, cầu, cảng, sân bay), lĩnh vực xây dựng dân dụng (nhà cửa, thiết bị đô thị tại khu công cộng, khu giải trí. Đánh giá dựa trên tiêu chuẩn AS/NZS 4360:2004 + HB436 (Tiêu chuẩn Quản lý rủi ro, Úc) và kịch bản cơ sở hạ tầng chịu tác động xấu nhất của BĐKH đến các năm 2030 và 2070, với giả định không có phản ứng thích ứng nào được đưa ra để giảm thiểu tác động của BĐKH đến các năm 2030 và 2070 Cũng trong năm 2007, Larrivee và Simonet [39] đã chỉ ra rằng không phải tất cả cơ sở hạ tầng đều phơi nhiễm trực tiếp trước tác động của BĐKH nhưng có thể bị gián tiếp ảnh hưởng do các cơ sở hạ tầng phụ thuộc lẫn nhau. Ngoài các yếu tố về khí hậu thì các yếu tố như tiêu chuẩn thiết kế công trình, thời gian sử dụng của công trình, sự thay đổi mục đích sử dụng đất, độ che phủ của đất.… ảnh hưởng không nhỏ tới TDBTT của hệ thống cơ sở hạ tầng, qua đó đưa ra các giải pháp thích ứng như kỹ thuật xây dựng và công nghệ vật liệu mới. Năm 2008, phát triển từ những nghiên cứu đánh giá TDBTT cho hệ thống cơ sở hạ tầng, Ủy ban Kỹ thuật tổn thương cơ sở hạ tầng công cộng Cannada (PIEVC) [33] đã xây dựng bộ công cụ đánh giá mức độ tổn thương kỹ thuật cho hệ thống cơ sở hạ tầng.
Tại thời điểm này, bốn đối tượng chính được tập trung nghiên cứu là: cơ sở hạ tầng tài nguyên nước, đường giao thông, cầu cống và các tòa nhà sau đó mở rộng áp dụng cho các đối tượng như đập, sân bay, cảng biển, hệ thống thông tin và truyền tải điện. Tính đến tháng 4 năm 2015, bộ công cụ này đã áp dụng cho hơn 40 đánh giá rủi ro không những vậy bộ công cụ còn được áp dụng để đánh giá tại khu vực ngoài Canada như Hunduras, Costa Rica. Trong nghiên cứu của Angela Peck, Elisabeth Bowering và S.Simonovic[32] đối tượng được đánh giá là hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị tại London cụ thể là: hệ thống cầu, đường giao thông, cống thoát lũ. Trên cơ sở chồng ghép bản đồ hệ thống hạ tầng đô thị hiện trạng và bản đồ ngập lụt với các kịch bản phác thải khác nhau, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được đối tượng dễ bị tổn thương cũng như xây dựng bản đồ thể hiện mức độ TDBTT của hệ thống hạ tầng đô thị tại từng khu vực trong thành phố London; 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhận thấy rằng, với cách tiếp cận ở khía cạnh tổn thương cơ học trong việc đánh giá TDBTT đối với hệ thống cơ sở hạ tầng mà chưa xét đến sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội, thể chế, môi trường và con người đã chưa thực sự thể hiện một cách tổng quát được sự tác động của các yếu tố đến tính dễ bị tổn thương.
Chính bởi vậy, các nghiên cứu sau này đã dần hoàn thiện với cách tiếp cận đa chiều hơn, phù hợp với từng đối tượng cơ sở hạ tầng tại các khu vực khác nhau. Một số nghiên cứu có thể kể đến như: Theo NJTPA [43] nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do BĐKH và đánh giá rủi ro của hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông tại Bang NewJersay, đánh giá TDBTT dựa vào 2 tiêu chí chính đó là mức độ phơi nhiễm và khả năng thích ứng. Mức độ phơi bày trước hiểm họa của hệ thống cơ sở hạ tầng được xác định dựa trên phân tích lớp phủ không gian của mức độ ngập lụt như nước biển dâng, bão, lũ lụt .trong môi trường GIS. Nghiên cứu mang tính định lượng và được đơn giản hóa các yếu tố khi xác định mức độ ngập lụt theo các kịch bản, các yếu tố xã hội, kinh tế.
Nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tính dễ bị tổn thương cho hệ thống giao thông đô thị. Fakhruddin và nnk [35] đã đánh giá TDBTT của hệ thống cơ sở hạ tầng tại đảo Samoa thuộc vùng biển Thái Bình Dương. Nghiên cứu dựa vào khung khái niệm của IPCC 2001, với ba tiêu chí đánh giá là độ phơi nhiễm trước hiểm họa, tính nhạy của hệ thống và khả năng thích ứng. Bên cạnh đó, tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp xây dựng chỉ số tổn thương có xét đến các yếu tố thể chế kinh tế - xã hội, y tế và sự hiểu biết của người dân địa phương.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, trong bốn đối tượng nghiên cứu thì đối tượng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là dễ bị tổn thương nhất do mức độ phơi nhiễm cao và khả năng ứng phó thấp trước các tai biến khí hậu.