Chương 1: Giới thiệu chung. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Kết luận chƣơng 1 Chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu. Đối tượng, phạm vi, thời gian và bố cục của đề tài cũng được trình bày trong chương này. Chương tiếp theo sẽ trình bày tổng quát các vấn đề lý thuyết nhằm hình thành các giả thuyết để đưa vào mô hình nghiên cứu.
123doc 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Hộ gia đình Hộ là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi. Thành viên hộ: Những người được coi là thành viên của hộ phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: (1) Cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua; (2) Có chung quỹ thu chi, nghĩa là mọi khoản thu nhập của thành viên đều được đóng góp vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của họ đều lấy từ ngân sách đó. Có nhiều kiểu hộ dân cư: - Hộ dân cư 2 thế hệ, gồm bố mẹ và các con của họ.
- Hộ dân cư nhiều thế hệ, cấu thành từ chủ hộ, vợ và các con của chủ hộ; bố/mẹ chủ hộ, cháu và những người khác, mà họ có thể có quan hệ huyết thống hoặc không, cùng ăn ở chung trong một chỗ ở với thời gian 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua. - Hộ dân cư gồm hai, ba cặp vợ chồng và không có con cái. - Hộ độc thân. Thu nhập Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định (12 tháng qua), bao gồm: (1) Thu nhập từ tiền lương, tiền công; (2) Thu từ sản xuất NLT (trừ chi phí sản 123doc 6 xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thủy sản (trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác tính vào TN (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được).
Các khoản TN nói trên được hiểu như sau: - Thu nhập từ tiền công, tiền lương là toàn bộ số tiền công, tiền lương, tiền lễ, tết, các khoản thưởng, đồng phục, ăn trưa, phụ cấp công tác, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp thai sản,.và giá trị hiện vật quy thành tiền mà người lao động nhận được từ hoạt động làm công ăn lương trong năm nghiên cứu. - Thu nhập từ sản xuất NLT (gọi chung là nông nghiệp) của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ thuế và chi phí sản xuất mà hộ gia đình nhận được từ hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản hộ tự làm trong năm nghiên cứu. Thu nhập từ sản xuất NLT của hộ bao gồm: thu nhập từ trồng trọt, thu nhập từ chăn nuôi, thu nhập từ hoạt động dịch vụ nông nghiệp, thu nhập từ hoạt động săn bắt, thuần dư ng động vật hoang dã, thu nhập từ lâm nghiệp và thu nhập từ các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. - Thu nhập từ sản xuất kinh doanh ngành phi NLT (gọi chung sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp) của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ thuế và chi phí sản xuất mà hộ gia đình nhận được từ hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ hộ tự làm trong năm nghiên cứu.
- Thu khác được tính vào thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền mà hộ gia đình nhận được từ các khoản thu khác được tính vào thu nhập như thu cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm,… trong năm nghiên cứu. Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh. 123doc 7 Như vậy, thu nhập của hộ gia đình là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, làm công ăn lương, hoạt động trợ cấp của Nhà nước và hoạt động trợ giúp xã hội mà hộ nhận được trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Thu nhập Tổng thu nhập Tổng CP vật chất và DV = - sử dụng vào hoạt động của hộ của hộ SXKD của hộ 2.
Khái niệm về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Trong phân phối TN là có sự khác biệt nhau lớn về tình hình TN giữa các nhóm người, khu vực khác nhau trong xã hội là thể hiện sự bất bình đẳng. Sự bất bình đẳng luôn diễn ra mọi lúc, mọi nơi dưới nhiều hình thức khác nhau trong đời sống hàng ngày. Trong xã hội có bất cứ một phân biệt nào như: phân biệt màu da, phân biệt chủng tộc, phân biệt tôn giáo, phân biệt nguồn gốc, khuynh hướng chính trị,… làm ảnh hưởng và làm tổn hại đến cơ hội tiếp cận hay đối xử không công bằng trong công việc và nghề nghiệp có sự khác nhau thì được coi là có sự bất bình đẳng. Đo lƣờng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở các lãnh thổ khác nhau, biểu hiện với những mức độ cũng khác nhau.
Việc cải thiện sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đã trở thành những vấn đề nóng và trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế được quan tâm ở hầu hết các nước. Thước đo bất bình đẳng trong thu nhập đã được các nhà kinh tế và tổ chức thế giới sử dụng phổ biến trong phân tích và nghiên cứu kinh tế là hệ số Gini, đường cong Lorenz, hệ số chênh lệch thu nhập, tiêu chuẩn ngân hàng thế giới (WB) và chỉ số phát triển giới. Hạng (Rank) 1 R Ym Y1 µ: thu nhập bình quân đầu người. Ym: Thu nhập của người giàu nhất Y1: Thu nhập của người nghèo nhất.
Ý nghĩa: - Rank cao: bất bình đẳng cao. - Rank thấp: công bằng hơn. Tỉ số Kuznet (Kuznets Ratios) Tỷ số giữa thu nhập của X% giàu nhất trên thu nhập của Y% người nghèo nhất. Độ lệch tuyệt đối trung bình (M) 1 m M n jY j n j 1 µ: Thu nhập bình quân đầu người.
n: Tổng số nhóm hộ. nj: Số nhóm hộ thứ j. Yj: Thu nhập của người thứ j. Hệ số GINI (Gini Concentration Ratio) Hệ số GINI (hệ số Logen) được tính theo công thức: ∑Pi (Fi + Fi -1) G=1- 10.000 Trong đó: 123doc 9 Pi: Dân số.
Fi: Thu nhập cộng dồn. Hệ số này nhận giá trị từ 0 đến 1, càng gần 1 càng bất bình đẳng và được tính theo thu nhập hay chi tiêu. Biểu thị hình học qua đường cong Lorenz, hệ số Gini tính như sau: Diện tích phần nằm giữa đường cong Lorenz và đường thẳng 45 độ (A) G = Tổng diện tích nằm dưới đường thẳng 45 độ (A+B) % Thu nhập cộng dồn A B % số hộ cộng dồn Hình 2. Biểu đồ mô phỏng đƣờng cong Lorenz Nguồn: Lý thuyết mô phỏng đường cong Lorenz.
Khi đường cong Lorenz trùng với đường thẳng 450 (đường bình đẳng tuyệt đối) thì hệ số Gini bằng 0 (vì A=0), xã hội có sự phân phối thu nhập tuyệt đối. Nếu đường cong Lorenz trùng với trục hoành, hệ số Gini bằng 1 (vì B=0), xã hội có sự phân phối bất bình đẳng tuyệt đối. Tiêu chuẩn “40%” của Ngân hàng Thế giới Tỷ lệ thu nhập chiếm trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có mức trung bình thấp nhất trong xã hội. Có một số bất bình đẳng như sau: 123doc 10 - Thu nhập 40% của dân số có mức TN thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ lớn hơn 17% của tổng TN thì bất bình đẳng không cao.
- Thu nhập 40% của dân số có mức TN thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ từ 12% - 17% của tổng TN thì bất bình đẳng tương đối. - Thu nhập 40% của dân số có mức TN thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 12% của tổng TN thì bất bình đẳng cao. Hệ số chênh lệch về thu nhập giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo Người ta chia tổng số hộ ra thành 5 nhóm với số hộ bằng nhau (mỗi nhóm có số hộ bằng 20% tổng số hộ), theo mức thu nhập bình quân đầu người như sau: - Nhóm 1 là nhóm nghèo. - Nhóm 2 là nhóm dưới trung bình (cận nghèo).
- Nhóm 3 là nhóm trung bình. - Nhóm 4 là nhóm khá. - Nhóm 5 là nhóm giàu. Các công trình nghiên cứu trƣớc đây - Hoàng Văn Kình, Bob Baulch, Lê Quí Đăng, Nguyễn Văn Đông, Ngô Doãn Goắc và Nguyễn Ngọc Khoa (2001) trong nghiên cứu “Yếu tố quyết định thu nhập từ lao động” phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình: + Thu nhập từ lao động bình quân đầu người của hộ gia đình phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập/giờ lao động, tiếp đó là phụ thuộc vào số giờ làm việc bình quân và tỷ lệ người làm việc. + Vùng có ảnh hưởng mạnh tới TN trên giờ lao động. TN trên giờ lao động tăng đáng kể khi chuyển dần từ Bắc vào Nam, với tỷ lệ cao nhất tại vùng Đông Nam Bộ (có trung tâm là TP. Hồ Chí Minh).
Mặc dù có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể tại Hà Nội, thu nhập/giờ lao động ở vùng đồng bằng Sông Hồng tăng không 123doc 11 nhanh như các vùng khác trong giai đoạn 1993 - 1998. Vì vậy, vị trí tính theo thu nhập của vùng này đã giảm đi. Thời gian làm việc bình quân không khác nhau nhiều giữa các vùng, mặc dù có bằng chứng về tình trạng thiếu việc làm ở các vựa lúa đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. + Chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn đã tăng lên.
Sự khác nhau này hoàn toàn do sự tăng lên nhanh hơn thu nhập/giờ lao động ở khu vực thành thị so với nông thôn; thời gian làm việc tại các vùng nông thôn trên thực tế tăng nhanh hơn so với các đô thị trung tâm, làm giảm nhẹ sự khác nhau về mức thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn.