Chương 1: Tổng quan về chỉ tiêu giáo dục của hộ gia đình Chương 2: Kết quả nghiên cứu và thảo luận PHAN NOI DUNG CHUONG 1. TONG QUAN CHI TIỂU GIAO DUC CUA HO GIA ĐÌNH 1. Một số khái niệm va định nghĩa 1. Hộ gia đình Có nhiều khái niệm về hộ GD như: “Hộ gia đình là một đơn vị cơ bản trong xã hội, bao gồm một nhóm người cùng sinh hoạt và chung sống với nhau dựa trên quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ con cái, quan hệ anh em hoặc quan hệ gia đình khác” (Trích Wikipedia), song khái niệm hộ gia đình còn có khái niệm khác là: “Hộ gia đình gồm một người ăn riêng ở riêng một mình hoặc một số người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ hơn 6 tháng trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chỉ” (theo Điều tra hộ dân cư của Tổng cục Thống kê Việt Nam), trong đó: Những thành viên của hộ có đủ cả hai điều kiện sau: (1) Ăn cùng, ở chung từ hơn 6 tháng trong một năm qua; và (2) Có quỹ thu và chi chung, được hiểu là tất cả nguồn thu nhập của mỗi thành viên phải đưa vào quỹ chung này của hộ và các khoản tiêu dùng của mọi thành viên đêu được trích ra từ quỹ chung đó.
Theo báo cáo của Ủy ban châu Âu năm 2010 về điều tra CTGD, khái niệm hộ gia đình phải có đủ 04 đặc điêm chính sau đây: (1) Các thành viên trong hộ có địa chỉ nơi ở thường xuyên cùng nhau (2) Các thành viên thống nhất trong van dé sẻ chia các khoản phí cần thiết dé bảo đảm cuộc sống thường ngày (3) Đóng chung phần thu nhập và các loại tài sản tạo nên quỹ ngân sách chung của gia đình (4) Có sự ràng buộc, móc nối về mối quan hệ huyết thống, máu mủ hoặc tình cảm giữa các thành viên trong hộ gia đình đó. Chú hộ Trong điều tra mức sống hộ dân cư của TCTK Việt Nam định nghĩa: “Chủ hộ là người có vai trò quản lý, điều hành, quyết định hầu hết mọi công việc của hộ. Chủ hộ thường là người có nguồn thu nhập nhiều nhất trong hộ, biết được hầu hết các hoạt động và thông tin của các thành viên sống trong hộ. Chủ hộ có thể trùng hoặc không trùng với chủ hộ trong đăng ký hộ khâu”.
Theo Ủy ban châu Âu năm 2010: “Chủ hộ là người mà dựa vào vào đặc điểm cá nhân của họ, từ đó có thể sắp xếp và phân tích các thông tin thu thập được từ hộ gia đình do người đó làm chủ hộ. Có thé chủ hộ là người có thu nhập nhiều nhất trong hộ, người sở hữu căn nhà hoặc là người đànông lớn tuổi nhất trong hộ”. Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005: “Chủ hộ là người đại diện cho hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thê là chủ hộ”.
Thu nhập hộ gia đình Theo điều tra hộ gia đình của Tong cục Thống kê Việt Nam: “Thu nhập của hộ là tat cả số tiền và giá trị vật chất quy ra thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian xác định, thường là 1 năm”. Thu nhập của hộ gia đính là tất cả các khoản bao gồm: - Tất cả nguồn thu từ hoạt động sản xuất về nông — lâm — ngư nghiệp; công nghiệp, dịch vụ (sau khi trừ thuê & chi phí sản xuat); - Tat cả nguồn thu được từ tiền lương, tiền công, tiền thưởng; - Những khoản thu không được tính vào thu nhập cá nhân bao gồm rút tiền tiét kiệm, doi nợ, bán của cải, tài sản gia đình, đi vay nợ, hoặc tạm ứng và các khoản chuyên nhượng vốn mà thành viên nhận được do đầu tư liên doanh, liên kết trong sản xuât và kinh doanh; _ Những nguồn thu khác cũng được tính vào thu nhập của hộ gia đình cụ thê như thu từ cho biêu, giúp, mừng, rút lãi tiét kiệm. Chỉ tiêu cho giáo dục của hộ Chi tiêu cho giáo dục của hộ được hiểu: “Là số tiền của hộ gia đình dành cho giáo dục của các thành viên trong hộ qua 12 tháng” (Theo số tay khảo sát mức sông hộ gia đình năm 2014). - Các khoản chi cho việc đi học của thành viên có di học trong 12 tháng qua, bao gôm: + Học phí; Đóng góp cho nhà trường; Các khoản trái tuyến ngoài ra; + Chi cho GDĐT khác trong 12 tháng (các băng ngôn ngữ, trang điểm, thâm mỹ, đánh máy toc ký, cat tóc gội đâu, làm móng, làm mi.) + Chi cho dung cụ học tập (Giay, Thước, bút, cặp, tập,.
Đóng quỹ hội phụ huynh học sinh, quỹ lớp; + Chi học thêm ngoài giờ cho các môn học thuộc chương trình theo quy định; Chi cho giáo dục khác (Đi đường, phí thi các môn, đóng tiên nhà trọ, bao hiêm y tê, thân thê học sinh,.); + Quan, áo đồng phục và trang phục theo quy định của nhà trường: SGK, tài liệu tham khảo; 2. Những lý thuyết có liên quan tới các nhân tố ảnh hưởng đến khoản chỉ tiêu cho giáo duc của hộ gia đình vùng TD&MNPB 2. Lý thuyết liên quan tới hành vi tiêu dùng Dựa trên lý thuyết tiêu dùng của Mas Collet và những người cộng sự năm 1995, nói răng: “Người tiêu dùng có quyết định chỉ tiêu mang tính chât duy lý. Trong điêu kiện thu nhập của hộ gia đình có giới hạn thì người tiêu dùng sẽ lựa chọn rô hàng hóa đảm bảo sao cho mức hữu dụng đạt được tôi đa” (Mas Collet và cộng sự, 1995).
Trong đó: Trong điều kiện p.x < I, c6 Max u(x) khi: X =X (XI, X2, ., Xn): La r6 hàng hóa hộ gia đình lựa chọn để sử dung; x1, Xa, ., Xn là các loại hàng hóa, san phâm; P =P (Pi, P2. ---, Pn): Là giá của rồ hàng hóa được sử dung kê trên; p1, po, .› Pn là giá của các loại sản phâm, hang hóa đó; 5 I: Là quỹ ngân sách của người mua. Trong điều kiện quỹ ngân sách I là không đôi & mức giá của thị trường là p được cho trước, tập hợp sự lựa chọn của người sử dụng sẽ được viêt dưới dạng: B (p,I) = {x thuộc Rạ+; điều kiện p.x <T} Người tiêu dùng sẽ đưa ra quyết định tiêu dùng giỏ hàng hóa sao cho đạt mức lợi ích là cao nhât. Lý thuyết liên quan tới ảnh hưởng của thu nhập tới chỉ tiêu Vào thế ky XIX, Ernst Engel- một nhà thống kê người Đức đã viết một báo cáo trình bày vê những tác động của thu nhập trong gia đình đến chỉ tiêu và đưa ra kết luận về các mô hình chỉ tiêu tiêu dùng, đó là: “GO những hộ dân khác nhau trong mức thu nhập thi sẽ chi tiêu cho các hàng hóa và dich vụ không giống nhau.
Khi thu nhập tăng lên thì ty trọng của thu nhập dùng dé chi tiêu cho các loại hàng hóa thiết yêu như lương thực, thực phẩm sẽ tăng lên đến một mức nhất định thì có xu hướng giảm dan và cùng với đó chi tiêu cho các loại hàng hóa xa xỉ cảng tăng khi thu nhập cảng tăng. Có nghĩa là các hộ dân cư nghèo thường dùng phan lớn thu nhập của họ chỉ tiêu cho các nhu cầu thiết yếu như lương thực thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt cần thiết, còn các hộ gia đình giàu có lại dùng phần lớn thu nhập cho chỉ tiêu các loại hàng hóa, dịch vụ xa xi, đắt tiền hơn” (Ernst Engel, XIX). Sự thay đổi trong mô hình chỉ tiêu khi có sự gia tăng trong thu nhập của các thành viên được gọi là quy luật Engel. Tóm lại theo lý thuyết nói về sự tác động của thu nhập đến chỉ tiêu tiêu dùng của tác giả E.
Engel thì chi tiêu của hộ gia đình có bị tác động bởi sự thay đôi trong mức thu nhập ứng với một loại hàng hóa nào đó. Lý thuyết liên quan tới đầu tư cho giáo dục hộ gia đình Dựa trên lý thuyết về vốn con người của tác giả Schultz năm 1961 và Becker năm 1993, GD&ĐT là khoản đầu tư quan trọng bậc nhất trong chu kỳ chiến lược phát triển về vốn con người - haiông chỉ ra có sự khác biệt một cách rõ ràng trong thu nhập giữa hai cá thé có trình độ học van không giống nhau. Nghiên cứu của hai ông chỉ ra rằng: Dé tạo ra lợi ích về mặt tăng thu nhập trong tương lai thì chúng ta cần phải đầu tư nhiều hơn cho giáo dục. Đồng thời, nó đòi hỏi chi phí trực tiếp và chỉ phí cơ hội vì chúng ta không thê làm việc trong thời gian chúng ta dành cho việc học.
Mỗi cá nhân sẽ so sánh những chỉ phí trực tiếp và những chỉ phí cơ hội đó với những giá trị mình sẽ nhận được ở trong tương lai của việc đầu tư cho đi học (Theo Schultz, 1961 & Becker, 1993). Tông quan nghiên cứu của các tác giả trước đây Bảng 1.1: Danh sách luận văn của tác giả Việt nam về chỉ tiêu giáo dục hộ trước năm 2022 Tên đề tài Thông tin về chỉ tiết Kết quả Nghiên cứu “Các | Dữ liệu dùng trong bài: Bộ dữ liệu| Các nhân tố cÓ sự nhân tô ảnh hưởng | KSMS dân cư của Tông cục Thống kê| ảnh hưởng đó là: đến chỉ tiêu của hộ | Việt Nam, năm 2008. Tổng mức chi, nơi gia đình: cho giáo Khu vực: Đông Nam bộ ở của hộ gia đình, dục ở vùng Đông |, trình độ học vân SO quan sát: 594 của chủ hộ gia đình, những chính sách Nam bộ” của Trần Phương pháp: TKMT và hoi quy băng hỗ trợ cho giáo dục Thanh Sơn (2012) phương pháp bình phương nhỏ nhât được nhận. (OLS) Các biến độc lập trong mô hình: số thành viên trong gia đình, tổng chi, nơi sinh sống của hộ của hộ ở thành thị hay nông thôn, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi và các khoản trợ cấp cho giáo dục được nhận.
Luận văn thạc sĩ Sử dụng bộ dữ liệu: KSMS dân cư của Yếu tổ tác động: “Phân tích yếu tổ Tông cục Thông kê Việt Nam, năm Chi trung bình của ảnh hưởng đến chỉ 2010 hộ, chi tiêu cho ăn tiêu giáo dục của uống, thực phẩm, Số quan sát: 2.