Chương 1 trình bày bối cảnh cũng như sự cần thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng và phương pháp mà tác giả sẽ thực hiện để tìm ra kết quả và kết luận về khả năng trả nợ của hộ gia đình Việt Nam. Chương 2 sẽ trình bày tổng quan lý thuyết về nợ, khả năng hoàn trả nợ và các lý thuyết liên quan đến tín dụng… Đồng thời, trình bày phương pháp tính toán, phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ. Chương 3 sẽ đưa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng nợ của các hộ gia đình Việt Nam trong năm 2008 thông qua việc phân tích các số liệu thống kê về các đặc tính nhân khẩu học, điều kiện kinh tế và địa lý. Chương 4 trình bày mô hình nghiên cứu dùng để phân tích định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng trả nợ của hộ gia đình.
Đồng thời, tác giả cũng mô phỏng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của hộ gia đình Việt Nam. Chương 5 tóm tắt những kết quả nghiên cứu chính từ chương 2 đến chương 4. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những gợi ý chính sách nhằm cải thiện khả năng trả nợ của hộ gia đình Việt Nam và mặt hạn chế của đề tài. 123doc 5 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày tổng quan lý thuyết về nợ, khả năng hoàn trả nợ và các lý thuyết liên quan đến tín dụng… Đồng thời, trình bày phương pháp tính toán, phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ. Khả năng hoàn trả nợ tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng 2. Khái niệm Sau đây tác giả xin trình bày một số khái niệm liên quan đến tín dụng như: tổ chức tín dụng, ngân hàng, hoạt động tín dụng, cấp tín dụng, cho vay, nợ và khả năng trả nợ. Theo Điều 20, Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997, các khái niệm liên quan đến tín dụng được hiểu như sau: a) Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
b) Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. c) Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. d) Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
123doc 6 Theo Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thổng đốc Ngân hàng Nhà Nước) quy định: e) Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Có thể phân loại hình thức cho vay theo hai tiêu chí: e1) Theo thời hạn vay gồm: (e1.1) Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng; (e1.2) Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 đến 60 tháng; (e1.3) Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên. e2) Theo mức độ tín nhiệm khách hàng (Đỗ Đoàn Như Uyên, 2007) gồm: (e2.1) Cho vay không có bảo đảm là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay; (e2.2) Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba. g) Nợ: tác giả xin được nêu một số lý thuyết về nợ như sau.
g1) Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước, nợ bao gồm: các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác; các khoản bao thanh toán; các hình thức tín dụng khác. g2) Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp nợ về tài sản. Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó.
Các công ty cũng có thể sử dụng nợ như là một phần trong chiến lược tài chính tổng thể của mình. 123doc 7 Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất định. Trong xã hội hiện đại, nợ thường được đi kèm với sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định. tính theo thời điểm.” g3) Theo Prinsloo (2002), nợ của hộ gia đình được hiểu là nghĩa vụ hoặc trách nhiệm pháp lý phát sinh từ việc vay tiền hoặc hàng hóa hoặc dịch vụ tín dụng, nghĩa là tương đương với một nghĩa vụ thanh toán sau.
Thông thường, một khế ước nhận nợ là phần thiết yếu nhất của các thỏa thuận nợ giữa một bên là một người hoặc một tổ chức và một bên khác. Khế ước nhận nợ thể hiện rõ thời hạn của món vay, lãi suất và các điều khoản thanh toán mà bên vay phải thực hiện và những tài sản đảm bảo mà bên vay cung cấp. Điều kiện về tài sản đảm bảo nhằm đảm bảo an toàn cho khoản vay, bên cho vay được quyền tiếp quản tài sản trong trường hợp bên vay không thể thực hiện các điều khoản thanh toán. h) Khả năng trả nợ (Debt Repayment Capacity), trong quá trình tìm hiểu từ những nghiên cứu đi trước, chỉ có một số ít định nghĩa về khả năng trả nợ của cá nhân hoặc hộ gia đình đơn thuần (không có hoạt động kinh doanh), còn lại đa số nghiên cứu định nghĩa khả năng trả nợ của hộ gia đình sản xuất và kinh doanh nông sản (gọi chung là hộ gia đình kinh doanh nông nghiệp).
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về khả năng trả nợ, tác giả vẫn xin được trích dẫn định nghĩa “khả năng trả nợ” cho cả cá nhân và hộ gia đình kinh doanh nông nghiệp như sau: h1) Vries và Giesy (2002) định nghĩa chung về khả năng trả nợ là chỉ số đo lường khả năng hoàn trả nợ (gồm vốn gốc và lãi vay) từ nguồn thu nhập thường xuyên. DBAP – một dự án về phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính của ngành kinh doanh sữa bò ở Florida và Georgia – đề nghị cách tính khả năng trả nợ cho hộ kinh doanh bò sữa theo Tỷ số dòng trả nợ thuần (Cash Flow Coverage Ratio – CFCR). Giá trị của tỷ số này chính là số lần mà các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn (hiện tại) được thanh toán bởi dòng tiền mặt thuần. Trong đó, kì hạn của dòng 123doc 8 tiền mặt phải tương đương với kì hạn của dòng nghĩa vụ tài chính, ví dụ như trong một năm.
Theo đó, tỷ số dòng trả nợ thuần = (tổng thu nhập tiền mặt – tổng chi tiêu tiền mặt) / tổng nghĩa vụ nợ hiện hành (2.1) Với tổng thu nhập tiền mặt và tổng chi tiêu tiền mặt đơn giản là dòng tiền thu vào và dòng tiền chi ra cho hoạt động kinh doanh, bao gồm cả lãi vay. Các khoản doanh thu và chi phí không phải bằng tiền mặt, như sự thay đổi suất đầu tư, khoản phải trả, khấu hao thì không tính vào. Tổng nghĩa vụ nợ hiện hành là số dư nợ gốc và lãi vay mà người vay phải trả trong một năm. Giá trị của tỷ số dòng trả nợ thuần phải tối thiểu bằng 1 thì người vay được xem như có phần thu nhập đủ để thanh toán nợ.
Tuy nhiên, để tăng cường tính an toàn cho khoản vay, bên cho vay thường xem xét tỉ số này từ mức 1,25 trở lên. Đây là mức giá trị mà tại đó, người vay có khoản nợ phải trả chiếm tối đa 80% phần thu nhập dành cho việc trả nợ. Lúc này, hộ được xem là có khả năng trả nợ tốt hơn so với trường hợp hộ có tỷ số dòng trả nợ thuần thấp hơn 1,25. Tuy nhiên, cách đo lường khả năng trả nợ theo tỷ số dòng trả nợ thuần có một hạn chế đáng kể là nó hoàn toàn dựa trên tiền mặt.
Sự thay đổi trong đầu tư, các khoản phải thu, khoản phải trả hay chi phí trả trước không được tính vào. Điều này có thể làm chệch kết quả đo lường. h2) Hội đồng Tiêu chuẩn tài chính nông nghiệp (The Farm Financial Standards Council - FFSC, 1997) đề nghị tính Tỷ số thanh toán nợ và chi phí thuê vốn (Term Debt and Capital Lease Coverage Ratio) để đo lường khả năng trả nợ. Tỷ số thanh toán nợ và chi phí thuê vốn = (thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh nông nghiệp và phi nông nghiệp + khấu hao + lãi vay trên nợ phải trả hàng kỳ - bảo hiểm xã hội và thuế thu nhập – vốn mà chủ đầu tư rút ra) / khoản nợ và chi phí vốn định kì phải trả (2.2) 123doc 9 Ý nghĩa của tỷ số thanh toán nợ và chi phí thuê vốn cũng tương tự như tỷ số dòng trả nợ thuần, nó chính là thước đo số lần mà nghĩa vụ nợ được thanh toán bằng khoản thu nhập dành cho trả nợ.
Khi sử dụng để đo lường khả năng trả nợ của hộ gia đình kinh doanh nông nghiệp, tỷ số thanh toán nợ và chi phí thuê vốn khắc phục được nhược điểm của tỷ số dòng trả nợ thuần ở chỗ nó có tính cả các phần thu nhập và chi tiêu không bằng tiền mặt.