Đặt vấn đề Vấn đề thoái hóa đất trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng rất đƣợc quan tâm đối với các nhà quản lý đất đai và nông nghiệp, đặc biệt ở nƣớc ta có hơn 90% diện tích là đất nông nghiệp, hiện nay quá trình canh tác đất nông nghiệp đã dẫn đến sự suy giảm chất lƣợng đất khá rõ rệt, điều này đồng nghĩa với việc đất ngày càng bị thoái hóa theo chiều hƣớng tiêu cực. Trong những năm gần đây, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã thực hiện nhiều cuộc điều tra, đánh giá thoái hóa đất các vùng tự nhiên - kinh tế trong cả nƣớc, trong đó có vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; đánh giá thực trạng môi trƣờng đất tại các vùng kinh tế trọng điểm. Kết quả thực hiện các cuộc điều tra, đánh giá trên cho thấy bƣớc đầu tài nguyên môi trƣờng đất đai bị thoái hóa rất đáng kể nhƣ: đất bị xói mòn; đất bị mặn hóa, phèn hóa; đất bị kết von, đá ong hóa; đất bị suy giảm độ phì; đất bị khô hạn, hoang mạc hóa, sa mạc hóa; …Từ kết quả các cuộc điều tra, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã đút kết và xây dựng tài liệu hƣớng dẫn chuyên môn kỹ thuật về thoái hóa đất, đặc biệt là xây dựng văn bản pháp luật về điều tra thoái hóa đất, từ đó làm cơ sở tiến hành các cuộc điều tra chi tiết về thoái hóa đất tại phƣơng. An Giang là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lƣợng lúa lớn nhất cả nƣớc.
Từ những năm 1990, tỉnh đã tích cực xây dựng hệ thống thủy lợi nhằm khai thác tiềm năng đất đai sẵn có của địa phƣơng (đặc biệt trong việc khai phá vùng đất phèn thuộc Tứ giác Long Xuyên). Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc rất đáng ghi nhận, tỉnh đang phải đối mặt với những yếu tố gây thoái hóa đất, cụ thể: Việc xây dựng hệ thống đê bao ngăn lũ, sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu đã làm cho đất nông nghiệp, đặc biệt là đất chuyên canh lúa nƣớc bị chai cứng bề mặt và suy giảm độ phì. Chứng minh cho điều này là kết quả điều tra thoái hóa đất của tỉnh (năm 2012) cho thấy có diện tích đất bị thoái hóa ở mức nặng là 12.557 ha (chiếm 12,98%), mức trung bình là 74.113 ha (chiếm 76,61%) và mức nhẹ là 10. Năm 2014 kỳ bổ sung điều tra thoái hóa đất cho 1 thấy các mức độ thoái hóa đất đều có xu hƣớng tăng.
Trong đó, yếu tố suy giảm độ phì nhiêu của đất là 113.060 ha (chiếm 32% DTTN) và chủ yếu xảy ra trên loại hình sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh. Chợ Mới là một trong những huyện trọng điểm sản xuất nông nghiệp, đóng góp sản lƣợng lúa gạo xuất khẩu tƣơng đối lớn của tỉnh. Những năm qua, với sự hỗ trợ tích cực từ chính quyền các kỹ thuật canh tác nông nghiệp đã có bƣớc tiến rất lớn, đồng thời cũng gây ra nhiều vấn đề cho việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất đai nhƣ: suy giảm chất lƣợng, ô nhiễm đất do lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật… do quá trình sản xuất. Dự án Kiểm soát lũ vùng đê bao Nam Vàm Nao huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đƣợc Trung ƣơng đầu tƣ từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, xây dựng các công trình thủy lợi với tần suất lũ năm 2000, nhằm thiết lập hệ thống thủy lợi một cách có hiệu quả, phục vụ cho sản xuất, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Chợ Mới.
Từ thực tế sản xuất và phân bố dân cƣ, vùng dự án đã hình thành nên 4 phân vùng với 76 tiểu vùng dựa trên cơ sở điều kiện canh tác, sông rạch, đƣờng giao thông và bờ bao tự nhiên. Ranh giới các phân vùng là các đê bao vành đai ngoài gọi là đê bao phân vùng dài 161,06 km, cao trình từ +3,2m đến +3,5m, bề mặt đê rộng từ 4m - 6m. Các tiểu vùng đƣợc bao quanh bởi hệ thống đê vành đai trong gọi là đê bao tiểu vùng dài 384,36 km, thực chất đây là hệ thống bờ kênh các cấp, có nhiệm vụ vừa là bờ kênh, vừa là đê bao các tiểu vùng. Hệ thống kênh cấp 1, cấp 2 dài 320,95 km, với nhiệm vụ tƣới tiêu kết hợp, kết cấu chủ yếu là kênh đất, đáy kênh đang bị bồi lắng, mặt cắt ngang thu hẹp đã ảnh hƣởng đến nhiệm vụ tƣới tiêu, vận tải thủy bộ của kênh, cao trình đáy kênh từ +0,0 m đến -1m.
Kênh nội đồng với 262 tuyến dài 436,2 km. Dƣới đê bao là các cống điều tiết, gồm 590 cống lớn nhỏ các loại, có nhiệm vụ tƣới tiêu kết hợp, diện tích phụ trách từ 50 ha – 150 ha, cửa van điều tiết chủ yếu là cửa gỗ không chủ động trong đóng mở cống, cao trình đáy phụ thuộc vào địa hình nơi đặt cống, chủ yếu từ -0,5 m đến +0,0 m. 2 Sản xuất nông nghiệp của huyện với thế mạnh là trồng lúa và hoa màu, 5 năm trở lại đây sản lƣợng rau màu của huyện chiếm 70% sản lƣợng rau của cả tỉnh, nông nghiệp phát triển từ 2 vụ sang 3 vụ, khai thác hết tiềm năng đất đai. Hệ thống thủy lợi phát triển cùng với mạng lƣới kênh, rạch tự nhiên chằng chịt và đặc biệt là hệ thống kênh đào ngang, dọc giúp thau chua, rửa phèn, cải tạo một vùng đất rộng lớn.
Tuy nhiên, hệ thống đê bao ngăn lũ làm cho đất trong đê ít đƣợc phù sa bồi tụ, dẫn đến nguy cơ suy giảm độ phì. Vì vậy cần phải tiến hành “Đánh giá diễn biến thoái đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện Chợ Mới tỉnh An Giang” nhằm tìm ra nguyên nhân chính có tác động và gây ra suy thoái hóa nguồn tài nguyên đất đai của huyện. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát Xác định đƣợc tình trạng và nguyên nhân thoái hóa đất (suy giảm độ phì) trong đê bao qua các giai đoạn nhằm đề xuất giải pháp phù hợp cho huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định đƣợc các yếu tố gây suy thoái đất trong đê bao ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. - Đánh giá đƣợc diễn biến thoái hóa đất vùng đê bao của huyện Chợ Mới trong những năm qua.
- Đề xuất đƣợc các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu thoái hóa đất trong khu vực đê bao huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu - Chất lƣợng đất trong đê bao thuộc địa bàn huyện Chợ Mới. - Hệ thống đê bao huyện Chợ Mới. - Kỹ thuật canh tác nông nghiệp tại huyện Chợ Mới.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: 27.000 ha (gồm: đất trồng lúa 19.000 ha, đất trồng cây hàng năm 4.000 ha, đất trồng cây lâu năm 4.
Phạm vi về mặt thời gian: Đánh giá qua 02 giai đoạn: từ 2002 – 2010 và 2011 – 2017. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5. Ý nghĩa khoa học Vai trò và những tác động của đê bao đang là vấn đề còn tranh cãi và phải tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ. Nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở khoa học để nhìn nhận, đánh giá mối liên hệ giữa xây dựng, vận hành đê bao và quá trình thoái hóa đất.
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kỹ thuật canh tác cũng là yếu tố tác động đến quá trình thoái hóa đất. Do vậy, đề tài ngoài việc nghiên cứu nguyên nhân từ đê bao còn tìm hiểu các nguyên nhân từ kỹ thuật canh tác trong đê bao nhằm củng cố thêm cơ sở khoa học đối với giả thiết nghiên cứu của đề tài.2 Ý nghĩa thực tiễn Nội dung nghiên cứu của đề tài gắn với vấn đề đang đặt ra trong việc sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh hệ thống đê bao khép kín, dày đặc tại địa phƣơng, đó là quá trình tác động vào đất bằng các kỹ thuật canh tác đang đƣợc áp dụng. 4 Kết quả đề tài là cơ sở thực tiễn để hoạch định các chính sách sử dụng đất nông nghiệp của huyện đồng thời cần cân nhắc và đƣa ra biện pháp nhằm hạn chế quá trình thoái hóa do suy giảm độ phì của đất tại khu vực nghiên cứu. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tồng quan về lĩnh vực nghiên cứu 1.1 Một số khái niệm về thoái hóa đất Hiện nay có rất nhiều khái niệm về thoái hoá đất nhƣ: - Thoái hóa đất theo FAO xác định là sự suy giảm khả năng sản xuất và lợi nhuận của một loại sử dụng đất đặc trƣng trong điều kiện quản lý đất đai nhất định.
- Các dạng thoái hóa đất bao gồm: Đất bị xói mòn, rửa trôi, sạt lở, suy giảm độ phì, khô hạn, hoang mạc hóa và ô nhiễm (Lal và Stewart, 1990). - Theo Oldeman - Ed (1988) đã định nghĩa, thoái hoá đất là quá trình làm giảm khả năng hiện tại hay trong tƣơng lai của đất trong sản xuất hàng hoá hay cung cấp các dịch vụ. - Thoái hoá đất có thể đƣợc hiểu nhƣ là mức độ thay đổi theo chiều hƣớng xấu đi của chất lƣợng đất, kết quả là làm giảm khả năng sản xuất của đất do nguyên nhân chính là sự can thiệp của con ngƣời (UNEP, 1992). - Thoái hóa đất là sự suy giảm nguồn tài nguyên đất do sử dụng đất không đúng (Bergsma et al.
- Thoái hóa đất là sự mất lâu dài chức năng và các tác dụng của hệ sinh thái do các xáo trộn gây ra làm cho hệ thống đó không thể phục hồi nếu không có trợ giúp (UNEP, 2007). - Đất bị suy thoái là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trƣởng và phát triển của các loại cây trồng nông, lâm nghiệp (Đào Châu Thu, 2009). 6 Chƣơng trình môi trƣờng của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã cho phép Trung tâm thông tin và tham chiếu đất quốc tế (ISRIC) thực hiện dự án "Đánh giá thoái hoá đất toàn cầu (GLASOD)" và xây dựng bản đồ thực trạng thoái hóa đất thế giới tỷ lệ nhỏ 1: 10. Từ những năm 1994 đến nay, các quốc gia đã quan tâm đến đánh giá thoái hóa đất cho những vùng đất đặc thù và xây dựng những bản đồ thoái hóa đất tỷ lệ lớn hơn: Bản đồ thoái hóa đất tỷ lệ 1:500.