Đánh giá diễn biến thoái hóa đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện chợ mới tỉnh an giang

Chuyên khảo nông nghiệp phân tích Đánh giá diễn biến thoái hóa đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện chợ mới tỉnh an, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá thoái hóa đất tại huyện Chợ Mới An Giang

Huyện Chợ Mới, An Giang, là một trong những khu vực trọng điểm về canh tác nông nghiệp tại miền Tây Nam Bộ. Việc đánh giá thoái hóa đất do canh tác nông nghiệp là rất cần thiết để bảo vệ tài nguyên đất đai. Thoái hóa đất không chỉ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng mà còn tác động đến môi trường sống của người dân. Theo nghiên cứu, tình trạng thoái hóa đất tại huyện Chợ Mới đã diễn ra trong nhiều năm qua, với nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc hiểu rõ về tình trạng này sẽ giúp đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện chất lượng đất.

1.1. Định nghĩa và các dạng thoái hóa đất

Thoái hóa đất được hiểu là sự suy giảm khả năng sản xuất của đất do nhiều nguyên nhân khác nhau. Các dạng thoái hóa đất bao gồm xói mòn, rửa trôi, suy giảm độ phì, và ô nhiễm. Theo FAO, thoái hóa đất là một vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh canh tác nông nghiệp hiện nay.

1.2. Tình hình nghiên cứu thoái hóa đất ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thoái hóa đất đang gia tăng, đặc biệt ở các vùng nông nghiệp trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long. Các cuộc điều tra cho thấy diện tích đất bị thoái hóa ngày càng lớn, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân.

II. Vấn đề thoái hóa đất do canh tác nông nghiệp tại huyện Chợ Mới

Canh tác nông nghiệp tại huyện Chợ Mới đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến thoái hóa đất. Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu không hợp lý đã dẫn đến tình trạng suy giảm độ phì của đất. Hệ thống đê bao cũng góp phần làm giảm khả năng bồi tụ phù sa, từ đó làm cho đất ngày càng nghèo dinh dưỡng. Theo số liệu điều tra, có khoảng 12.557 ha đất bị thoái hóa nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp.

2.1. Nguyên nhân chính gây thoái hóa đất

Nguyên nhân chính gây thoái hóa đất tại huyện Chợ Mới bao gồm kỹ thuật canh tác không hợp lý, chuyển đổi cơ cấu cây trồng không phù hợp, và hệ thống đê bao khép kín. Những yếu tố này đã làm giảm khả năng phục hồi của đất, dẫn đến tình trạng suy giảm độ phì.

2.2. Ảnh hưởng của canh tác nông nghiệp đến đất

Canh tác nông nghiệp không bền vững đã làm cho đất bị chai cứng, giảm khả năng giữ nước và dinh dưỡng. Việc lạm dụng phân bón hóa học cũng làm cho đất bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe cây trồng và con người.

III. Phương pháp đánh giá thoái hóa đất tại huyện Chợ Mới

Để đánh giá tình trạng thoái hóa đất, nhiều phương pháp đã được áp dụng, bao gồm điều tra thực địa, phân tích mẫu đất và sử dụng công nghệ GIS. Những phương pháp này giúp xác định chính xác mức độ thoái hóa và nguyên nhân gây ra. Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy có sự suy giảm đáng kể về độ phì của đất trong các mô hình canh tác khác nhau.

3.1. Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu bao gồm việc khảo sát thực địa, lấy mẫu đất và phân tích các chỉ tiêu hóa lý của đất. Các số liệu này sẽ được sử dụng để đánh giá tình trạng thoái hóa đất một cách chính xác.

3.2. Phân tích mẫu đất và đánh giá độ phì

Phân tích mẫu đất giúp xác định các chỉ tiêu như pH, hàm lượng chất hữu cơ, và các nguyên tố dinh dưỡng. Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng thoái hóa đất và khả năng phục hồi của nó.

IV. Giải pháp cải thiện tình trạng thoái hóa đất tại huyện Chợ Mới

Để ngăn ngừa và giảm thiểu thoái hóa đất, cần áp dụng các biện pháp cải thiện kỹ thuật canh tác, sử dụng phân bón hợp lý và bảo vệ môi trường. Việc giáo dục người dân về các phương pháp canh tác bền vững cũng rất quan trọng. Các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng đất mà còn nâng cao năng suất cây trồng.

4.1. Cải thiện kỹ thuật canh tác

Cải thiện kỹ thuật canh tác bao gồm việc áp dụng các phương pháp canh tác hữu cơ, giảm thiểu sử dụng hóa chất và tăng cường sử dụng phân bón tự nhiên. Những biện pháp này sẽ giúp phục hồi độ phì của đất và bảo vệ môi trường.

4.2. Bảo vệ và phục hồi đất

Bảo vệ và phục hồi đất cần được thực hiện thông qua việc trồng cây che phủ, cải tạo đất và sử dụng các biện pháp chống xói mòn. Những biện pháp này sẽ giúp duy trì độ phì và cải thiện chất lượng đất trong dài hạn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về thoái hóa đất tại huyện Chợ Mới

Kết luận cho thấy tình trạng thoái hóa đất tại huyện Chợ Mới đang ở mức báo động. Việc áp dụng các giải pháp cải thiện kỹ thuật canh tác và bảo vệ đất là rất cần thiết. Tương lai, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và người dân để thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên đất đai. Chỉ khi có sự đồng lòng, tình trạng thoái hóa đất mới có thể được cải thiện.

5.1. Triển vọng phát triển bền vững

Triển vọng phát triển bền vững tại huyện Chợ Mới phụ thuộc vào việc áp dụng các biện pháp canh tác bền vững và bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng đất mà còn nâng cao đời sống của người dân.

5.2. Tầm quan trọng của giáo dục và nâng cao nhận thức

Giáo dục và nâng cao nhận thức về bảo vệ đất là rất quan trọng. Cần tổ chức các chương trình đào tạo cho nông dân về kỹ thuật canh tác bền vững và bảo vệ môi trường để giảm thiểu thoái hóa đất.

24/07/2025
Đánh giá diễn biến thoái hóa đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện chợ mới tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Vấn đề thoái hóa đất trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng rất đƣợc quan tâm đối với các nhà quản lý đất đai và nông nghiệp, đặc biệt ở nƣớc ta có hơn 90% diện tích là đất nông nghiệp, hiện nay quá trình canh tác đất nông nghiệp đã dẫn đến sự suy giảm chất lƣợng đất khá rõ rệt, điều này đồng nghĩa với việc đất ngày càng bị thoái hóa theo chiều hƣớng tiêu cực. Trong những năm gần đây, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã thực hiện nhiều cuộc điều tra, đánh giá thoái hóa đất các vùng tự nhiên - kinh tế trong cả nƣớc, trong đó có vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; đánh giá thực trạng môi trƣờng đất tại các vùng kinh tế trọng điểm. Kết quả thực hiện các cuộc điều tra, đánh giá trên cho thấy bƣớc đầu tài nguyên môi trƣờng đất đai bị thoái hóa rất đáng kể nhƣ: đất bị xói mòn; đất bị mặn hóa, phèn hóa; đất bị kết von, đá ong hóa; đất bị suy giảm độ phì; đất bị khô hạn, hoang mạc hóa, sa mạc hóa; …Từ kết quả các cuộc điều tra, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã đút kết và xây dựng tài liệu hƣớng dẫn chuyên môn kỹ thuật về thoái hóa đất, đặc biệt là xây dựng văn bản pháp luật về điều tra thoái hóa đất, từ đó làm cơ sở tiến hành các cuộc điều tra chi tiết về thoái hóa đất tại phƣơng. An Giang là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lƣợng lúa lớn nhất cả nƣớc.

Từ những năm 1990, tỉnh đã tích cực xây dựng hệ thống thủy lợi nhằm khai thác tiềm năng đất đai sẵn có của địa phƣơng (đặc biệt trong việc khai phá vùng đất phèn thuộc Tứ giác Long Xuyên). Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc rất đáng ghi nhận, tỉnh đang phải đối mặt với những yếu tố gây thoái hóa đất, cụ thể: Việc xây dựng hệ thống đê bao ngăn lũ, sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu đã làm cho đất nông nghiệp, đặc biệt là đất chuyên canh lúa nƣớc bị chai cứng bề mặt và suy giảm độ phì. Chứng minh cho điều này là kết quả điều tra thoái hóa đất của tỉnh (năm 2012) cho thấy có diện tích đất bị thoái hóa ở mức nặng là 12.557 ha (chiếm 12,98%), mức trung bình là 74.113 ha (chiếm 76,61%) và mức nhẹ là 10. Năm 2014 kỳ bổ sung điều tra thoái hóa đất cho 1 thấy các mức độ thoái hóa đất đều có xu hƣớng tăng.

Trong đó, yếu tố suy giảm độ phì nhiêu của đất là 113.060 ha (chiếm 32% DTTN) và chủ yếu xảy ra trên loại hình sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh. Chợ Mới là một trong những huyện trọng điểm sản xuất nông nghiệp, đóng góp sản lƣợng lúa gạo xuất khẩu tƣơng đối lớn của tỉnh. Những năm qua, với sự hỗ trợ tích cực từ chính quyền các kỹ thuật canh tác nông nghiệp đã có bƣớc tiến rất lớn, đồng thời cũng gây ra nhiều vấn đề cho việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất đai nhƣ: suy giảm chất lƣợng, ô nhiễm đất do lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật… do quá trình sản xuất. Dự án Kiểm soát lũ vùng đê bao Nam Vàm Nao huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đƣợc Trung ƣơng đầu tƣ từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, xây dựng các công trình thủy lợi với tần suất lũ năm 2000, nhằm thiết lập hệ thống thủy lợi một cách có hiệu quả, phục vụ cho sản xuất, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Chợ Mới.

Từ thực tế sản xuất và phân bố dân cƣ, vùng dự án đã hình thành nên 4 phân vùng với 76 tiểu vùng dựa trên cơ sở điều kiện canh tác, sông rạch, đƣờng giao thông và bờ bao tự nhiên. Ranh giới các phân vùng là các đê bao vành đai ngoài gọi là đê bao phân vùng dài 161,06 km, cao trình từ +3,2m đến +3,5m, bề mặt đê rộng từ 4m - 6m. Các tiểu vùng đƣợc bao quanh bởi hệ thống đê vành đai trong gọi là đê bao tiểu vùng dài 384,36 km, thực chất đây là hệ thống bờ kênh các cấp, có nhiệm vụ vừa là bờ kênh, vừa là đê bao các tiểu vùng. Hệ thống kênh cấp 1, cấp 2 dài 320,95 km, với nhiệm vụ tƣới tiêu kết hợp, kết cấu chủ yếu là kênh đất, đáy kênh đang bị bồi lắng, mặt cắt ngang thu hẹp đã ảnh hƣởng đến nhiệm vụ tƣới tiêu, vận tải thủy bộ của kênh, cao trình đáy kênh từ +0,0 m đến -1m.

Kênh nội đồng với 262 tuyến dài 436,2 km. Dƣới đê bao là các cống điều tiết, gồm 590 cống lớn nhỏ các loại, có nhiệm vụ tƣới tiêu kết hợp, diện tích phụ trách từ 50 ha – 150 ha, cửa van điều tiết chủ yếu là cửa gỗ không chủ động trong đóng mở cống, cao trình đáy phụ thuộc vào địa hình nơi đặt cống, chủ yếu từ -0,5 m đến +0,0 m. 2 Sản xuất nông nghiệp của huyện với thế mạnh là trồng lúa và hoa màu, 5 năm trở lại đây sản lƣợng rau màu của huyện chiếm 70% sản lƣợng rau của cả tỉnh, nông nghiệp phát triển từ 2 vụ sang 3 vụ, khai thác hết tiềm năng đất đai. Hệ thống thủy lợi phát triển cùng với mạng lƣới kênh, rạch tự nhiên chằng chịt và đặc biệt là hệ thống kênh đào ngang, dọc giúp thau chua, rửa phèn, cải tạo một vùng đất rộng lớn.

Tuy nhiên, hệ thống đê bao ngăn lũ làm cho đất trong đê ít đƣợc phù sa bồi tụ, dẫn đến nguy cơ suy giảm độ phì. Vì vậy cần phải tiến hành “Đánh giá diễn biến thoái đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện Chợ Mới tỉnh An Giang” nhằm tìm ra nguyên nhân chính có tác động và gây ra suy thoái hóa nguồn tài nguyên đất đai của huyện. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát Xác định đƣợc tình trạng và nguyên nhân thoái hóa đất (suy giảm độ phì) trong đê bao qua các giai đoạn nhằm đề xuất giải pháp phù hợp cho huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định đƣợc các yếu tố gây suy thoái đất trong đê bao ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. - Đánh giá đƣợc diễn biến thoái hóa đất vùng đê bao của huyện Chợ Mới trong những năm qua.

- Đề xuất đƣợc các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu thoái hóa đất trong khu vực đê bao huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu - Chất lƣợng đất trong đê bao thuộc địa bàn huyện Chợ Mới. - Hệ thống đê bao huyện Chợ Mới. - Kỹ thuật canh tác nông nghiệp tại huyện Chợ Mới.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: 27.000 ha (gồm: đất trồng lúa 19.000 ha, đất trồng cây hàng năm 4.000 ha, đất trồng cây lâu năm 4.

Phạm vi về mặt thời gian: Đánh giá qua 02 giai đoạn: từ 2002 – 2010 và 2011 – 2017. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5. Ý nghĩa khoa học Vai trò và những tác động của đê bao đang là vấn đề còn tranh cãi và phải tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ. Nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở khoa học để nhìn nhận, đánh giá mối liên hệ giữa xây dựng, vận hành đê bao và quá trình thoái hóa đất.

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kỹ thuật canh tác cũng là yếu tố tác động đến quá trình thoái hóa đất. Do vậy, đề tài ngoài việc nghiên cứu nguyên nhân từ đê bao còn tìm hiểu các nguyên nhân từ kỹ thuật canh tác trong đê bao nhằm củng cố thêm cơ sở khoa học đối với giả thiết nghiên cứu của đề tài.2 Ý nghĩa thực tiễn Nội dung nghiên cứu của đề tài gắn với vấn đề đang đặt ra trong việc sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh hệ thống đê bao khép kín, dày đặc tại địa phƣơng, đó là quá trình tác động vào đất bằng các kỹ thuật canh tác đang đƣợc áp dụng. 4 Kết quả đề tài là cơ sở thực tiễn để hoạch định các chính sách sử dụng đất nông nghiệp của huyện đồng thời cần cân nhắc và đƣa ra biện pháp nhằm hạn chế quá trình thoái hóa do suy giảm độ phì của đất tại khu vực nghiên cứu. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tồng quan về lĩnh vực nghiên cứu 1.1 Một số khái niệm về thoái hóa đất Hiện nay có rất nhiều khái niệm về thoái hoá đất nhƣ: - Thoái hóa đất theo FAO xác định là sự suy giảm khả năng sản xuất và lợi nhuận của một loại sử dụng đất đặc trƣng trong điều kiện quản lý đất đai nhất định.

- Các dạng thoái hóa đất bao gồm: Đất bị xói mòn, rửa trôi, sạt lở, suy giảm độ phì, khô hạn, hoang mạc hóa và ô nhiễm (Lal và Stewart, 1990). - Theo Oldeman - Ed (1988) đã định nghĩa, thoái hoá đất là quá trình làm giảm khả năng hiện tại hay trong tƣơng lai của đất trong sản xuất hàng hoá hay cung cấp các dịch vụ. - Thoái hoá đất có thể đƣợc hiểu nhƣ là mức độ thay đổi theo chiều hƣớng xấu đi của chất lƣợng đất, kết quả là làm giảm khả năng sản xuất của đất do nguyên nhân chính là sự can thiệp của con ngƣời (UNEP, 1992). - Thoái hóa đất là sự suy giảm nguồn tài nguyên đất do sử dụng đất không đúng (Bergsma et al.

- Thoái hóa đất là sự mất lâu dài chức năng và các tác dụng của hệ sinh thái do các xáo trộn gây ra làm cho hệ thống đó không thể phục hồi nếu không có trợ giúp (UNEP, 2007). - Đất bị suy thoái là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trƣởng và phát triển của các loại cây trồng nông, lâm nghiệp (Đào Châu Thu, 2009). 6 Chƣơng trình môi trƣờng của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã cho phép Trung tâm thông tin và tham chiếu đất quốc tế (ISRIC) thực hiện dự án "Đánh giá thoái hoá đất toàn cầu (GLASOD)" và xây dựng bản đồ thực trạng thoái hóa đất thế giới tỷ lệ nhỏ 1: 10. Từ những năm 1994 đến nay, các quốc gia đã quan tâm đến đánh giá thoái hóa đất cho những vùng đất đặc thù và xây dựng những bản đồ thoái hóa đất tỷ lệ lớn hơn: Bản đồ thoái hóa đất tỷ lệ 1:500.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ