CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (ECONOMIC VALUE ADDED – EVA) 1.1 TỔNG QUAN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (ECONOMIC VALUE ADDED – EVA) 1.1 Sự hình thành và phát triển của thước đo EVA Thuật ngữ giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added-EVA) xuất hiện từ rất sớm vào năm 1989 (Finegan, 1989). Tuy nhiên, nó nhận được ít sự quan tâm cho đến tháng 9/1993 khi bài báo trong tạp chí Fortune (Tully, 1993) giới thiệu chi tiết khái niệm EVA, được xây dựng bởi công ty tư vấn Stern Stewart, và việc vận dụng thành công trong các tập đoàn lớn ở Mỹ. Tiếp sau thành công của bài báo trong tạp chí Fortune viết về EVA như là một thước đo thành quả hoạt động mới thì hàng loạt các nghiên cứu liên quan đến EVA đã được công bố ví dụ: Walbert, 1993; Birchard, 1994; Brossy and Balkcom, 1994; McConville, 1994; Bennett, 1995; Ochsner, 1995; Stewart, 1995; Birchard, 1996; Davies, 1996; Gapenski, 1996; Lehn and Makhija, 1996. Mặc dù EVA là thước đo tài chính khá mới, tuy nhiên nền tảng khái niệm của nó thì không mới, nó có nguồn gốc từ khái niệm lợi nhuận còn lại (Residual Income - RI) mà nhiều doanh nghiệp đã sử dụng trước đây.
Điển hình là công ty General Electric (GE) đã sử dụng RI trong những năm 1950-1960 để đánh giá thành quả hoạt động. GE định nghĩa RI như là “sự chênh lệch giữa lợi nhuận thuần và chi phí sử dụng vốn, nó là phần thặng dư của lợi nhuận thuần sau khi trừ đi chi phí sử dụng vốn” (Salomons, 1965). Công ty Stern Stewart được coi là người sáng lập đầu tiên công thức EVA – cho đến nay đã tư vấn cho hơn 200 doanh nghiệp thực hiện, áp dụng thước đo EVA để đánh giá thành quả hoạt động và xây dựng chính sách khuyến khích khen thưởng (Stern Stewart & Co. Danh sách một số công ty tại Hoa Kỳ áp dụng EVA như: Allied Holdings, Briggs & Stratton, Coca Cola, CSX, Dun & Bradstreet, Eli LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Lilly, Federal-Mogul, Georgiaa-Pacific, Monsanto, Olin, R.
Donnelley, Sprint, SPX, Toys R Us, and Whirlpool. Tính ưu việt của EVA ngày càng được khẳng định và nó không chỉ giới hạn đối với các công ty ở Hoa Kỳ, mà còn lan rộng sang các công ty ở Châu Âu như: Anh, Đức, New Zealand….2 Sự cần thiết vận dụng thước đo EVA Các thước đo truyền thống đánh giá hoạt động của doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh khác nhau và thoả mãn nhu cầu cho nhiều đối tượng khác nhau. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì kết quả đánh giá mà các các thước đo đưa ra là khác nhau hay thậm chí là trái ngược nhau. Điều này làm các nhà quản lý phải đối mặt với thách thức lớn hơn trong việc đưa ra quyết định phù hợp.
Các nhà đầu tư cũng quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp như các nhà quản lý, nhưng quan trọng hơn cả là họ muốn biết mỗi đồng vốn đầu tư bỏ ra có thu nhập thật sự là bao nhiêu sau khi tính đến chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn đầu tư. Cần có một thước đo có thể cho các nhà đầu tư cũng như các nhà quản lý thấy được giá trị thực sự của doanh nghiệp và lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra có tạo ra tiền cho cổ đông hay không. Thước đo EVA là thước đo duy nhất giải quyết được các vấn đề trên. Ngoài ra nó còn là cở sở khen thưởng các nhà quản lý phù hợp với thành quả mà họ mang lại cho doanh nghiệp.
Có nhiều bằng chứng được các học giả nghiên cứu chỉ ra rằng: khi sử dụng thước đo EVA trong việc đánh giá thành quả hoạt động như là một bộ phận cấu thành trong hệ thống quản lý giá trị của doanh nghiệp thì sẽ duy trì được sự ổn định và tạo động lực cho các nhà quản lý (Fortune, 1993). Như vậy sử dụng EVA sẽ giúp nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp là tạo ra giá trị cho cổ đông. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc sử dụng thước đo EVA có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Ví dụ: giá cổ phiếu của CSX tăng từ 28 USD lên 75 USD từ giữa 1988 và 1993 (Tully, 1993).
Như John Blystone “Trong nửa đầu năm 1996. Chúng tôi đã tạo ra đồng 135 triệu cho các cổ đông của chúng tôi, tăng 67%.” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Eli Lilly cũng có kết quả tương tự, khi áp dụng EVA giá cả các cổ phiếu tăng 105% trong một năm (Davies, 1996).3 Khái niệm Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added – EVA) là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động trước lãi vay sau thuế và chi phí sử dụng vốn. Cơ sở để tính chi phí sử dụng vốn là lãi suất sử dụng vốn và số vốn sử dụng.
Dưới góc độ tài chính thì lãi suất sử dụng vốn được xác định từ thị trường vốn. Đối với nhà đầu tư là người cung cấp vốn cho doanh nghiệp thì lãi suất sử dụng vốn là tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư đòi hỏi khi cung cấp vốn cho doanh nghiệp. Mức sinh lời này phải tương ứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có khả năng gặp phải khi cung cấp vốn. Doanh nghiệp là người sử dụng nguồn tài trợ thì lãi suất sử dụng vốn là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được để đảm bảo duy trì tỷ suất lợi nhuận trên vốn và tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông.
Lãi suất sử dụng vốn phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố: tính mạo hiểm của việc sử dụng vốn, lãi suất của các khoản nợ phải trả, cấu trúc vốn của doanh nghiệp, chính sách phân phối lợi nhuận…Vì vậy, khi tính toán lãi suất sử dụng vốn cần phải lượng hoá được lãi suất bình quân của tất cả các nguồn tài trợ (WACC). Vốn đầu tư là số vốn doanh nghiệp cần phải có để thực hiện hoạt động đầu tư hay hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Về nguyên tắc thì vốn đầu tư nên được xác định theo giá thị trường. Cũng giống như cách tính toán các chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt động truyền thống khác, số liệu kế toán là số liệu ban đầu sử dụng cho việc xác định giá trị kinh tế tăng thêm.
Tuy nhiên, số liệu kế toán được lập dựa trên một số giả định và tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, vì vậy có sự khác biệt với lý thuyết tài chính: giữa giá trị theo sổ sách kế toán và giá trị thị trường của các loại tài sản và nguồn vốn; lợi nhuận trên Báo cáo kế toán khác biệt với số tiền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tạo ra cho cổ đông và nó dễ dàng bị thay đổi. Vì vậy, khi tính EVA cần thiết phải thực hiện một số điều chỉnh để giảm sự khác biệt này.2 VẬN DỤNG THƯỚC ĐO EVA TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG. Để hiểu rõ hơn về phương pháp và cách tính EVA chúng ta cần phải phân biệt nó với một số thước đo thành quả hoạt động khác và giữa thước đo thành quả hoạt động với thước đo giá trị doanh nghiệp (wealth metric). Thành quả hoạt động mà tác giả đề cập trong đề tài là kết quả cuối cùng của tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Thước đo thành quả hoạt động đề cập dưới góc độ kiểm soát, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ (ROE); tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI), lợi nhuận còn lại (RI), giá trị kinh tế tăng thêm (EVA). Thước đo giá trị doanh nghiệp sử dụng để định giá doanh nghiệp như giá trị thị trường của vốn chủ hoặc hệ số giá cổ phiếu trên thu nhập (P/E). Tuy nhiên, trong dài hạn thì hai thước đo này có mỗi liên hệ với nhau và thước đo thành quả hoạt động ảnh hưởng tới triển vọng sự gia tăng giá trị doanh nghiệp trong tương lai.1 Một số thước đo thành quả hoạt động truyền thống. Các thước đo có thể có mối quan hệ với nhau.
Mô hình Dupont có thể triển khai các quan hệ phức tạp gồm nhiều thước đo tác động lẫn nhau và nhờ đó đã chỉ ra được các yếu tố tài sản, nguồn vốn, vốn đầu tư, doanh thu, lợi nhuận…và ảnh hưởng của chúng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Sơ đồ phân tích Dupont ROE Tỷ lệ hoàn vốn : Vốn cổ phần đầu tư (ROI) Tổng tài sản x Tỷ suất sinh lợi trên Vòng quay doanh thu (ROS) VĐT ÷ ÷ Lợi nhuận Doanh thu Doanh thu Vốn đầu tư ròng - + Vốn luân Doanh thu Chi phí Tài sản cố chuyển thuần định Giá thành CP quản lý, + BH Tài sản ngắn Nợ ngắn hạn hạn - không chịu lãi 1.1 Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư ( Return on Investment-ROI) ROI được phát triển bởi công ty DuPont Power trong những năm đầu 1900 để quản lý doanh nghiệp một cách thống nhất (Johnson&Kaplan, 1987). ROI là tỷ số giữa thu nhập thuần trên vốn đầu tư đã bỏ ra. Ngoài ra ROI còn được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu với vòng quay của doanh thu trên vốn đã sử dụng (mô hình Du-Pont).
Mô hình Du-Pont là mô hình đo lường thành quả tài chính truyền thống dựa trên các khái niệm về thu nhập kế toán. Nhiều ý kiến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cho rằng mô hình tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) là một chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt động hoàn hảo. Tất cả các hoạt động trong một tổ chức đều được biểu hiện qua mô hình Du-pont này. Với việc phân tích nhấn mạnh nhiều vào sự phụ thuộc của chỉ số tài chính dựa trên bốn khía cạnh liên quan đến tài chính doanh nghiệp: Lợi nhuận, khả năng thanh toán, cấu trúc vốn, hoạt động.
Công thức ROI Lợi nhuận Lợi nhuận Doanh thu ROI = = X Vốn đầu tư Doanh thu Vốn đầu tư Tỷ suất lợi nhuận ROI = = X Số lần vòng quay vốn trên doanh thu Xác định lợi nhuận và vốn đầu tư - Lợi nhuận: Lợi nhuận sử dụng trong cơ cấu xác định chỉ tiêu ROI là lợi nhuận thuần trước thuế Lý do sử dụng chỉ tiêu này là để phù hợp với doanh thu và vốn đầu tư đã tạo ra nó, và để làm cơ sở xác định số lần quay vòng vốn.