Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Đánh giá tài nguyên, kinh tế - xã hội và môi trường đới bờ tỉnh Bình Thuận Chương 3: Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển bền vững đới bờ tỉnh Bình Thuận Kết luận và kiến nghị 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về quy hoạch tổng thể phát triển bền vững đới bờ 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng và đem lại sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cho toàn nhân loại. Tuy nhiên cùng với đó là những vấn đề môi trường nghiêm trọng mà chúng ta đang phải đối mặt.
Đứng trên bờ vực của sự sống còn, mỗi quốc gia đã đi tìm những quyết sách riêng cho mình. Từ đó, quản lý tổng hợp đới bờ biển (QLTHĐB), quy hoạch không gian biển (QHKGB), quy hoạch môi trường đới bờ được đi trước một bước và áp dụng ngày càng phổ biến. Thực hiện tốt các công cụ này sẽ phát huy được một cách có hiệu quả tính quản lý đa ngành, đa chiều kích thích sự phát triển kinh tế-xã hội góp phần tăng trưởng GDP trong một giai đoạn nhất định. Tuy nhiên để làm ổn định và bảo vệ môi trường bền vững cho đới bờ trên thế giới các nước phát triển đã phải trải qua hàng trăm năm để giải quyết các mâu thuẫn và xung đột giữa quy hoạch ngành và quy hoạch tổng thể phát triển bền vững thì mới có được sự ổn định bền vững về môi trường và bền vững về kinh tế xã hội.
Đến những thập kỷ 70 của thế kỷ trước các nước phát triển gần như đã hoàn tất về quy hoạch tổng thể vì họ coi quy hoạch tổng thể phát triển bền vững như một đề án tiên phong kiến tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh cho các cấp độ quy hoạch khác nhau: đầu tiên là quy hoạch tổng thể cho cả đất nước sau đó là tiến hành quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch đới bờ và quy hoạch không gian biển. Từ ý nghĩa đó có thể định nghĩa “quy hoạch tổng thể phát triển bền vững là kiến tạo nên một mô hình hoàn chỉnh có tính chiến lược lâu dài về khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế- xã hội, quản lý và bảo vệ môi trường của một quốc gia hay một đơn vị lãnh thổ nhất định” [32]. Từ định nghĩa này có thể diễn đạt một cách khác là quy hoạch tổng thể là sợi chỉ đỏ xuyên suốt thời gian và không gian, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động khai thác tài nguyên phát triển kinh tế -xã hội. Từ ý nghĩa đó quy hoạch ngành là một bộ phận hợp thành của quy hoạch tổng thể luôn luôn đảm bảo tính tương thích mọi nơi và mọi lúc.
Từ những thập kỷ 90 của thế kỷ trước đến nay các nước phát triển tiếp tục hoàn thiện quy hoạch ngành, quy hoạch môi trường, quản lý tổng hợp đới bờ, quy hoạch không gian biển… a) Các nghiên cứu về quản lý tổng hợp đới bờ Quản lý tổng hợp đới bờ (QLTHĐB) được đề cập nhiều kể từ sau Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCED) được tổ chức vào năm 1992. Định nghĩa về QLTHĐB là phần tổng hợp của Chương 17 (chương về đại 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dương và bờ biển) của Chương trình Nghị sự 21, đây là kế hoạch hành động bao quát do UNCED xây dựng. Việc chấp thuận Chương trình Nghị sự 21, sự ủng hộ cao của các nhà tài trợ, các cơ quan chính phủ và các cơ quan Liên Hợp Quốc trong hai thập kỷ qua là nhờ sự gia tăng nhanh của các dự án quản lý tài nguyên và môi trường vùng đới bờ ở các nước đang phát triển. Kể từ đó, QLTHĐB ngày càng được ứng dụng rộng khắp trên thế giới.
Các hướng dẫn về QLTHĐB được mở rộng và cập nhật năm 1993 tại Hội thảo ĐBB, tổ chức tại Hà Lan. Kết quả là năm 1993 chỉ có 217 điểm áp dụng QLTHĐB, con số này đã tăng lên gấp 3 lần chỉ trong vòng 9 năm, đạt 700 điểm áp dụng QLTHĐB vào năm 2002, bao gồm cả cấp quốc gia, khu vực và quốc tế [118]. Các điểm áp dụng này bao gồm toàn bộ các vùng trên thế giới, các cấp chính phủ, các thành phần kinh tế, các chế độ chính trị và các vấn đề của vùng đới bờ trên phạm vi khoảng 100 quốc gia đang áp dụng QLTHĐB. Cho đến nay, có rất nhiều chương trình lớn về QLTHĐB được xây dựng và thực hiện, như Chương trình khung QLTHĐB của Cộng đồng châu Âu; Chương trình quản lý tài nguyên biển châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê; Chương trình QLTHĐB biển Hắc Hải; Chương trình đới bờ của Mỹ; Chương trình khung quản lý đới bờ Vương Quốc Anh; Chương trình QLTHĐB của các nước Cộng hòa Tanzania, Maldives, Liên bang Đức; Chương trình QLTHĐB vùng Victoria (Úc), Cape Town (Nam Phi),.
Các chương trình nêu trên nói chung đều đề cập đến những vấn đề chính tại đới bờ, bao gồm: Giảm thiểu các mâu thuẫn sử dụng đa ngành, đa mục tiêu tại đới bờ; Bảo tồn và bảo vệ tính đa dạng sinh học và các tài nguyên thiên nhiên; Phục hồi, duy trì các tài nguyên và các giá trị lịch sử, văn hoá tại đới bờ; Hỗ trợ phát triển bền vững, đặc biệt là các ngành kinh tế liên quan đến biển; Giảm đói nghèo, cải thiện đời sống các cộng đồng cư dân ven biển. Nhìn chung, QLTHĐB là phương thức quản lý nhằm đạt hiệu quả cao trong sử dụng tài nguyên và giá trị chung tại đới bờ, giảm thiểu các tác động có hại đến con người và môi trường, trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các ngành, cơ quan và các bên liên quan. QLTHĐB hướng đến mục tiêu phát triển bền vững với ba trụ cột lớn: kinh tế, xã hội và môi trường. Nó vừa đảm bảo khi thác tài nguyên đem lại giá trị kinh tế, vừa tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương vùng bờ, đồng thời ngăn chặn, phòng ngừa các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Chính vì thế, QLTHĐB ngày càng có vai trò quan trọng đối với chiến lược phát triển kinh tế trong dài hạn của các quốc gia. b) Các nghiên cứu về quy hoạch môi trường đới bờ Quy hoạch môi trường đới bờ biển là khái niệm đã được manh nha tại Mỹ vào những năm 60 của thế kỷ 19, đó là khi các quốc gia bắt đầu quan tâm đến các thông số môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển. Lý thuyết về 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quy hoạch môi trường được phát triển liên tục từ nhà xã hội học người Pháp, Le Play đến nhà quy hoạch Scotlen, Sir Patrick Geddes và sau đó là người học trò của ông, Lewis Mumford người Mỹ và sau này là Ian McHarg [8]. Dân cư dần trở nên đông đúc hơn thúc đẩy hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên ven biển để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt hàng ngày.
Giữa thế kỉ 19 cũng là thời điểm bắt đầu của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu, vùng ven biển bị khai thác một cách mạnh mẽ, trở thành các khu đô thị hoặc đất sản xuất nông nghiệp. Dưới sức ép của việc tìm kiếm lợi nhuận kinh tế trước mắt, các vấn đề môi trường và sự khan hiếm tài nguyên ít được quan tâm. Đến thế kỷ 20, khi nền công nghiệp đạt được sự tăng trưởng nhất định, con người bắt đầu nghiên cứu, nhận thức được tiềm năng có hạn của đới bờ biển và các vấn đề ô nhiễm môi trường nảy sinh. Khi đó, các yếu tố môi trường được đưa vào trong quy hoạch phát triển vùng ven biển của các quốc gia khu vực châu Âu: Úc (1941), Mỹ (1945).
Ở châu Á, quy hoạch phát triển vùng tại Nhật Bản (1957), điển hình là quy hoạch phát triển cho các vùng nông thôn kém phát triển nhằm đạt được việc sử dụng hiệu quả đất và các nguồn tài nguyên. Một số quy hoạch vùng ở các nước châu Á khác xuất hiện muộn hơn, có thể kể đến như: Chương trình phát triển tài nguyên nước của Ủy ban phát triển Gal Oya (1949), Quy hoạch phát triển thống nhất tài nguyên nước lưu vực sông Mekong (1957) tại Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, chương trình di cư (1950 - 1987) và các nghiên cứu quy hoạch lưu vực sông ở Indonesia. Hiện nay một số tổ chức quốc tế như WB, ADB,… đã ban hành nhiều tài liệu giới thiệu kinh nghiệm, cung cấp thông tin và hướng dẫn về QHMT ở nhiều nước trên thế giới. ADB đã xuất bản các tài liệu liên quan đến quản lý và QHMT, tài nguyên thiên nhiên tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương như Hướng dẫn quy hoạch thống nhất phát triển kinh tế kết hợp với môi trường vùng - Tổng quan về các nghiên cứu quy hoạch phát triển môi trường vùng tại châu Á; Hướng dẫn quy hoạch thống nhất phát triển kinh tế kết hợp với môi trường vùng và Quy hoạch xây dựng quy hoạch môi trường vùng.
c) Các nghiên cứu về quy hoạch không gian biển Quy hoạch không gian biển (QHKGB) được phát triển từ ý tưởng quản lý công viên biển quốc tế “Dải san hô lớn - Great Barrier Reef” theo phân vùng chức năng (function zoning) ở Australia cách đây khoảng 30 năm. Theo đó, các nhà quy hoạch chia không gian biển ở đây thành 07 phân khu để quản lý, sử dụng hiệu quả và thích ứng với bản chất tự nhiên của từng phân khu, bao gồm: (1) Phân khu sử dụng chung; (2) Phân khu bảo tồn nơi cư trú; (3) Phân khu bảo tồn cửa sông; (4) Phân khu công viên bảo tồn; (5) Phân khu đệm; (6) Phân khu vườn quốc gia; (7) 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Các hoạt động khai thác tài nguyên biển sẽ được quy định được phép hay không được phép tùy theo phân khu. Nhờ những hiệu quả đem lại, những năm sau đó, phân vùng chức năng được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển (Marine Protected Area) toàn cầu, khu vực và các quốc gia.
Trong suốt tiến trình phát triển, QHKGB cũng đã được xác định bằng các văn bản pháp lý đầu tiên tại Mỹ. Năm 1972, Chính phủ Mỹ thông qua Bộ luật về vùng bờ trong đó áp dụng phân vùng đới bờ trong sử dụng đa ngành. Sau đó, vào năm 1982, Công ước Luật biển được xác lập đã đưa ra cách tiếp cận quản lý biển và đại dương theo không gian mang tầm quốc tế.