Chương 1: Cơ sở lý luận đánh giá tài nguyên nước Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn Chương 3: Đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và đề xuất các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên nước 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƢỚC 1. Khái niệm tài nguyên nƣớc Nước là một loại tài nguyên quí giá và được coi là vĩnh cửu. Không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của chúng ta. Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế con người.
Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thủy sản … Tài nguyên nước là lượng nước trong sông, ao hồ, đầm lầy, biển và đại dương và trong khí quyển, sinh quyển. Trong Luật Tài nguyên nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ Nghĩa Việt nam”. Nước có hai thuộc tính cơ bản đó là đó là gây lợi và gây hại. Nước là nguồn động lực cho mọi hoạt động kinh tế của con người, song nó cũng gây ra những hiểm họa to lớn không lường trước được đối với con người.
Những trận lũ lớn có thể gây thiệt hại về người và của thậm chí tới mức có thể phá hủy cả một vùng sinh thái. Tài nguyên nước là một thành phần gắn với mức độ phát triển của xã hội loài người tức là cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ mà tài nguyên nước ngày càng được bổ sung trong ngân quỹ nước các quốc gia. Thời kỳ nguyên thủy, tài nguyên nước chỉ bó hẹp ở các khe suối, khi con người chưa có khả năng khai thác sông, hồ và các thủy vực khác. Chỉ khi kỹ thuật khoan phát triển thì nước ngầm tâng sâu mới trở thành tài nguyên nước.
Và ngày nay có các công nghệ sinh hóa tiên tiến thì việc tạo nước ngọt từ nước biển cũng không thành vấn đề lớn 1. Tổng quan các nghiên cứu về tài nguyên nƣớc 1. Trên thế giới Nghiên cứu tài nguyên nước (TNN) từ lâu đã trở thành hướng nghiên cứu quan trọng của nhiều ngành khoa học. Trong nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nhằm lập kế hoạch và quy hoạch phát triển KT-XH của một đơn vị lãnh thổ, thì đánh giá 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TNN là nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Do nhận thức của con người nên việc nghiên cứu TNN đã có những bước chuyển biến rất lớn theo lịch sử nghiên cứu. Trước đây, cùng với sự hiểu biết về chu trình tuần hoàn nước tự nhiên (mưa - bốc hơi - dòng chảy) và nhu cầu sử dụng nước rất nhỏ của mình, con người đã tự coi nước như một dạng tài nguyên vô hạn. Việc nghiên cứu TNN bấy giờ tập trung kiểm kê, đánh giá và đưa ra các giải pháp sử dụng nước theo nhu cầu sử dụng bằng các công trình cung cấp nước (nhà máy nước, giếng, hồ chứa, trạm bơm, kênh mương, đường ống …). Khi con người khai thác tài nguyên thiên nhiên nói chung và TNN nói riêng ở quy mô lớn, cùng với công nghệ hiện đại bên cạnh việc tạo ra lượng hàng hóa lớn là lượng chất thải tương đương đổ vào môi trường cùng với sự gia tăng dân số, nguồn TNN có những biểu hiện suy thoái.
Vì vậy, việc nghiên cứu khai thác gắn liền với bảo vệ TNN đã được đề cập đến. Năm 1977, lần đầu tiên LHQ đưa vấn đề Nước lên diễn đàn quốc tế. Tại Hội nghị Mar Del Plata (Argentina) đã nhấn mạnh về vấn đề quy hoạch nước sạch và vệ sinh, và lấy thập kỷ 80 là “Thập kỷ Quốc tế nước sạch và Vệ sinh”. Năm 1991, tại Hội nghị tư vấn không chính thức về nước họp tại Copenhagen (Đan Mạch) đã đưa ra nguyên lý cơ bản về TNN: - Nước phải được coi là một thứ hàng hóa - TNN cần được quản lý ở cấp thích hợp nhất Những nguyên lý này được khẳng định và làm rõ hơn tại Hội nghị Quốc tế về Nước và môi trường ở DuBlin (Ireland, I/1992) và quy định trong Chương 18 có tiêu đề “Bảo vệ chất lượng và cung cấp nước ngọt: ứng dụng các cách tiếp cận về phát triển, quản lý và sử dụng nước” của chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) với 4 nguyên tắc: - Nước ngọt là tài nguyên có hạn và dễ suy thoái, cần thiết để duy trì sự sống, phát triển môi trường.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phát triển và quản lý cần dựa trên nguyên tắc cùng tham gia của người dùng nước, người lập kế hoạch và hoạch định chính sách ở mọi cấp. - Phụ nữ có vai trò trung tâm trong việc dự trữ, quản lý và bảo vệ nước. - Nước có giá trị kinh tế trong mọi sử dụng cạnh tranh và cần được thừa nhận là một hàng hóa kinh tế. Năm 1996 ra đời 2 tổ chức, trung tâm hoạt động quốc tế về nước.
Hội đồng nước thế giới (World Water Council - WWC) là nơi tập hợp các nghiên cứu mang tính lý luận. Cộng tác vì Nước toàn cầu (Global Water Partership - GWP) là mạng lưới hoạt động nhằm đưa các nguyên tắc Dublin vào thực tiễn. Năm Diễn đàn Nước thế giới lần thứ 2 - La Hague thông qua Tầm nhìn an ninh Nước thế giới và khung hành động Nước cho mọi người. Tháng 7 năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Johannesburg đặt Nước lên hàng đầu trong 5 ưu tiên (WEHAB).
Tháng 3 năm 2003, Diễn đàn nước thế giới lần thứ 3 đã được tổ chức tại Kyoto, Shiga và Osaka (Nhật Bản) với chủ đề “nước sạch cho tương lai”. Đây được xem là hội nghị bàn về chủ đề nước lớn nhất thế giới khi nhóm họp được hơn 24.000 đại biểu đại diện đến từ 180 quốc gia và khu vực. Tháng 3 năm 2006, Diễn đàn Nước thế giới kỳ thứ 4 diễn ra ở Mexico City với chủ đề: Nước và văn hóa. Chủ đề này cũng là một phần tiếp nối cho Thập kỷ Hành động Quốc tế 2005 – 2015 để đánh dấu quyết tâm của Liên Hợp Quốc về việc cung cấp nước sạch cho mọi người trên thế giới vào năm 2015.
Các chương trình liên quan đến nước của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) là: - Giúp đỡ các quốc gia trong cung cách quản lý nguồn nước; - Thành lập những trung tâm phát triển vùng khô; 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thiết lập hệ thống quản trị nguồn nước ngọt và môi trường như: phẩm chất nước, hệ thống dẫn thủy nhập điền, nước ngầm, quản trị nguồn nước giữa các quốc gia, nước và hệ sinh thái, hạn hán và ngập lụt, và việc quản lý nước trong các thành phố; - Quan trọng hơn cả là khuyến khích tư nhân hợp tác với chính quyền trong việc bảo vệ môi trường nhất là ở các thành phố lớn. Tháng 3 năm 2009, Diễn đàn nước thế giới lần thứ 5 diễn ra tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ với chủ đề “Hàn gắn những bất đồng về vấn đề nước” nhằm chia sẻ nguồn nước, chia sẻ cơ hội giữa các quốc gia với nhau. Ngày 22 tháng 03 năm 2011, Diễn đàn nước thế giới lần thứ 6 diễn ra tại Ninh Thuận, Việt Nam có chủ đề “Nước cho phát triển đô thị”, với mục tiêu nâng cao nhận thức của cộng đồng quốc tế, chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư về những thách thức của tài nguyên nước trong phát triển bền vững các đô thị trong quá trình công nghiệp hóa, biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai. Tuy nhiên với các quốc gia có trình độ phát triển KT-XH và khoa học công nghệ khác nhau thì việc nghiên cứu tài nguyên nước cũng có định hướng không giống nhau.
Đối với các nước phát triển (Pháp, Anh, Mỹ, Úc, Nhật.), đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu TNN đã đề ra các quy trình, quy phạm nhằm quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường nước theo lưu vực sông. Nó bao gồm các biện pháp giảm thiểu chất thải bằng việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch và kiểm toán chất thải, thu gom tái sử dụng các chất thải, xử lý một phần và xử lý toàn bộ các chất thải, nước thải trước khi đổ vào sông, quy hoạch khai thác hợp lý nguồn nước phục vụ phát triển bền vững KT - XH lưu vực sông, quan trắc lượng và chất lượng môi trường, cảnh báo sự khuếch tán các chất độc hại trong sông và dự báo sinh thái - chất lượng nước trên toàn lưu vực sông. Đối với những nước đang phát triển, việc nghiên cứu TNN mới được quan tâm từ vài trục năm trở lại đây và cũng mới chỉ đạt tới mức kiểm kê, đánh giá và 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đưa ra các giải pháp sử dụng nước theo nhu cầu sử dụng bằng các công trình cung cấp nguồn nước (nhà máy nước, giếng, hồ chứa, trạm bơm, kênh mương, đường ống. Như vậy, ở phạm vi quốc tế, tài nguyên nước đã được tiến hành nghiên cứu kiểm kê và đánh giá cả về trữ lượng, chất lượng, đồng thời cũng hướng tới sử dung tài nguyên nước hợp lý với tiêu chí phát triển bên vững.
Ở Việt Nam Ở nước ta, ngay từ giữa những năm thập kỷ 70, Nhà nước đã chú trọng và quan tâm đầu tư nghiên cứu, điều tra đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường đất, nước theo các vùng sinh thái. Ngoài những đề tài, đề án độc lập, đã hình thành một loạt các chương trình nghiên cứu nhằm từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên, TNTN và môi trường các vùng lãnh thổ phục vụ quy hoạch phát triển KT - XH, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ môi trường. Có thể điểm qua một số chương trình đã triển khai theo các giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1976 - 1980: Có 4 chương trình điều tra tổng hợp các vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Bắc, Tây Nguyên và ven biển miền Trung, trong đó kiểm kê TNN về lượng nhằm khai thác phục vụ phát triển KT - XH, nhưng chưa đề cập đến các vấn đề về chất lượng nước. - Giai đoạn 1981 - 1985: Đã triển khai 19 chương trình khoa học cấp Nhà nước có liên quan đến tài nguyên và môi trường nhưng vẫn chủ yếu đi vào hướng kiểm kê các nguồn tài nguyên trong đó có TNN.