Chương 1: Khảo sát nguồn tài liệu lưu trữ liên quan đến lĩnh vực quản lý đô thị trong Phông lưu trữ Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội. Tổng quan về quản lý đô thị. Khái niệm chung. * Khái niệm đô thị: “Đô thị là điểm dân cư tập trung có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và điểm dân cư nội thị không dưới 4000 người (đối với miền núi là 2000 người), với tỉ lệ phi nông nghiệp tối thiểu là 65%” 1.
Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/7/2009) của Chính phủ về việc phân loại đô thị, tổ chức lập, thẩm định đề án và quyết định công nhận loại đô thị; thì đô thị được phân thành 6 loại, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận, gồm: Loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V. Việc phân loại đô thị nhằm tổ chức, sắp xếp và phát triển hệ thống đô thị cả nước; lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị; nâng cao chất lượng đô thị và phát triển đô thị bền vững; xây dựng chính sách và cơ chế quản lý đô thị và phát triển đô thị. Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại đô thị hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị, gồm: Chức năng đô thị; quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4.000 người trở lên; mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động, hệ thống công trình hạ tầng đô thị; kiến trúc, cảnh quan đô thị. - Đô thị loại đặc biệt là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học- kỹ thuật.
là đầu mối giao thông, giao lưu trong 1 Quản lý đô thị - TS. Phạm Trọng Mạnh, Nxb Xây dựng năm 2002, tr. §µo ThÞ Thanh Xu©n 11 Kho¸: 2006 - 2009 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khảo sát, đánh giá nguồn tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý đô thị trong Phông Lưu trữ Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội cả nước và quốc tế. Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu 5 triệu người trở lên; mật độ dân số nội thành đạt 15.000 người/km2; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động và có các hệ thống công trình hạ tầng cơ sở đô thị đạt chuẩn; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường.
Hiện ở Việt Nam có 2 thành phố được Chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. - Đô thị loại I trực thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa. có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước. Nếu là đô thị trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị đạt 1 triệu người trở lên; mật độ dân số nội thành đạt 12.000 người/km2.
Nếu là đô thị trực thuộc tỉnh đạt 500.000 người trở lên và có mật độ dân số nội thành tối thiểu 10.000 người/km2. Có 7 thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định công nhận đô thị loại I là: Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang và Cần Thơ. - Đô thị loại II có quy mô dân số đạt từ 300.000 người trở lên. Trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số phải đạt trên 800.
Đô thị trực thuộc tỉnh có mật độ dân số từ 8.000 người/km² trở lên; trường hợp đô thị trực thuộc Trung ương thì quy mô mật độ dân số từ 10.000 người/km² trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động. Ví dụ: Thành phố Hải Dương, Thanh Hóa, Hạ Long, Vũng Tàu … - Đô thị loại III có dân số từ 150.000 người trở lên; mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km² trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động.
Ví dụ: Thành phố Ninh Bình, Bắc Ninh … - Đô thị loại IV có dân số 50.000 người trở lên. Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km² trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động. Ví dụ: các thị xã Bỉm Sơn, Sầm Sơn … §µo ThÞ Thanh Xu©n 12 Kho¸: 2006 - 2009 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khảo sát, đánh giá nguồn tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý đô thị trong Phông Lưu trữ Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội - Đối với đô thị loại V, đây là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm xã.
Quy mô dân số toàn đô thị loại V từ 4.000 người trở lên với mật độ dân số bình quân từ 2000 người/km2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng lao động. Ví dụ: các thị trấn Đông Anh, Sóc Sơn … - Đối với các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương. Như vậy, theo Nghị định trên thì Hà Nội là đô thị loại đặc biệt, có chức năng là trung tâm văn hóa – kinh tế - chính trị của cả nước.
Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển của thành phố Hà Nội ngày càng tăng nhanh, sự gia tăng dân số tập trung vào khu vực trung tâm đã tạo ra nhiều khó khăn về kiểm soát phát triển dân cư, các điều kiện hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, kiểm soát đất đai và môi trường đô thị. Để góp phần quản lý có hiệu quả những vấn đề trên đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm phát triển một đô thị Hà Nội bền vững. Chính vì vậy mà công tác quản lý đô thị luôn là nhiệm vụ hết sức quan trọng. * Khái niệm quản lý đô thị: “Quản lý đô thị là một khoa học tổng hợp được xây dựng trên cơ sở nhiều ngành khoa học chuyên ngành, bao gồm hệ thống chính sách, cơ chế, biện pháp và phương tiện được chính quyền nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện quản lý và kiểm soát quá trình tăng trưởng đô thị” 2.
Phạm Trọng Mạnh, quản lý đô thị bao gồm quản lý hành chính và quản lý chuyên môn: Quản lý hành chính có tác dụng duy trì, điều khiển mọi hoạt động trên mọi lĩnh vực thuộc địa bàn đô thị. Cơ quan quản lý hành chính chịu trách nhiệm cao nhất về các sự việc xảy ra ở đô thị. Quản lý hành chính là một công việc rất đa dạng và phức tạp, đòi hỏi một cơ chế quản lý đầy đủ và đồng bộ. Hệ thống các văn bản cần rõ ràng thống nhất và viên chức nhà nước cũng cần thông thạo chuyên môn hành chính.
2 Quản lý đô thị của TS. Phạm Trọng Mạnh, Nxb Xây dựng, 2002, tr.7 và Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị của GS.Nguyễn Thế Bá, Nxb Xây dựng, 2004, tr. §µo ThÞ Thanh Xu©n 13 Kho¸: 2006 - 2009 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khảo sát, đánh giá nguồn tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý đô thị trong Phông Lưu trữ Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội Quản lý chuyên môn nghiệp vụ trên các ngành, các lĩnh vực của đô thị chính là hỗ trợ cho hệ thống quản lý nhà nước. Mỗi ngành đều có các cơ quan quản lý của mình.
Họ hoạt động theo các văn bản pháp quy, quy định, quy phạm của ngành dọc đồng thời thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước, chịu sự điều hành, điều phối của cơ quan quản lý hành chính cấp trên. Như vậy, quản lý chuyên môn nghiệp vụ không đơn thuần là thực hiện theo đúng các quy định, quy phạm kỹ thuật của ngành mà còn phải thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao từ cơ quan quản lý nhà nước cấp trên. Những vấn đề cơ bản trong quản lý chuyên môn nghiệp vụ ở đô thị là: quản lý tài chính đô thị, quản lý công trình kiến trúc, quản lý đất, quản lý môi trường đô thị, trật tự xã hội … - Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của công tác quản lý đô thị: a. Xây dựng môi trường vật thể đô thị, gồm cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, cảnh quan đô thị theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật ; b.
Cung cấp cơ sở hạ tầng công cộng thiết yếu phục vụ cho các yêu cầu tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội và cân bằng sinh thái đô thị; c. Bảo đảm cho các thị trường đô thị (nhà, đất, vốn, lao động …) hoạt động hữu hiệu; d. Bảo vệ môi trường đô thị, an ninh, trật tự xã hội. Nội dung chủ yếu của công tác quản lý đô thị.
Quản lý đô thị bao gồm rất nhiều lĩnh vực, nhưng chủ yếu tập trung vào 6 nội dung chính: - Quản lý quy hoạch xây dựng đô thị. - Quản lý đất và nhà ở đô thị. - Quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị. - Quản lý cảnh quan và môi trường đô thị.
- Quản lý hạ tầng xã hội đô thị. - Quản lý tài chính đô thị. 1) Quản lý quy hoạch xây dựng đô thị: §µo ThÞ Thanh Xu©n 14 Kho¸: 2006 - 2009 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.