Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng giao thông tốt giúp rút ngắn thời gian và giảm chi phí vận chuyển, tạo điều kiện cho con người tiếp cận các dịch vụ và tiện ích từ xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, trao đổi, giao lưu kinh tế ở địa phương và khu vực. Trong giai đoạn 2006- 2011, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đã thực hiện đầu tư các dự án giao thông trọng điểm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của Thành phố như: nâng cấp mở rộng đường Nguyễn Văn Trỗi- Nam Kỳ Khởi Nghĩa, xây dựng mới Đại lộ Đông - Tây, cầu Thủ Thiêm, cầu Phú Mỹ, hầm Thủ Thiêm, cầu Bình Triệu 1 và Bình Triệu 2, cầu Nguyễn Văn Cừ, cầu Nhị Thiên Đường 2, cầu Tân Thuận 2,…Các dự án lớn có thu phí như cầu Bình Triệu 1, cầu Phú Mỹ đều có vấn đề về tính khả thi tài chính. Hiện nay, hai dự án lớn được hoàn vốn dưới hình thức thu phí giao thông đang được đầu tư trên địa bàn Thành phố là cao tốc TP.Hồ Chí Minh- Long Thành- Dầu Giây (HLD) và mở rộng Xa lộ Hà Nội (XLHN). Quy hoạch phát triển giao thông vận tải TP.HCM đến năm 2020 được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt ở quyết định số 101/QĐ-TTg, xác định xây dựng đường cao tốc HLD thành trục hướng tâm đối ngoại, có năng lực thông xe lớn.
Quy hoạch này không đề cập đến mở rộng XLHN. Dự án HLD bắt đầu từ nút giao An Phú với Đại lộ Đông Tây ở Quận 2, qua Quận 9, TP.HCM, và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Cẩm Mỹ, Thống Nhất thuộc Đồng Nai, kết thúc tại Dầu Giây, Đồng Nai. Dự án HLD tạo một tuyến giao thông mới với tốc độ cao (120 km/h), là tuyến đường chính kết nối TP.HCM với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, các khu kinh tế phát triển ở phía Bắc và phía Đông TP.HCM, sân bay Quốc tế mới Long Thành, hệ thống cảng biển nước Sâu Bà Rịa- Vũng Tàu. HLD chia sẻ lưu lượng giao thông trên trục XLHN, giảm tình trạng quá tải, ách tắc giao thông liên tục xảy ra trên XLHN từ năm 2008.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Theo Quyết định 101/QĐ-TTg, dự án HLD được triển khai xây dựng trong giai đoạn 2008- 2012, và bắt đầu khai thác vào năm 2013. Tuy nhiên, đến ngày 03/10/2009, dự án HLD mới được khởi công và dự kiến hoàn thành và đi vào khai thác năm 20141. Trong thời gian dự án HLD bị trì hoãn đầu tư thì trục đường XLHN liên tục bị ách tắc. Ngày 23/01/2008, UBND TP.HCM có văn bản số 556/UBND-ĐTMT về việc chấp thuận cho Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh (CII) làm chủ đầu tư (CĐT) dự án mở rộng XLHN theo hình thức Xây dựng- Kinh doanh- Chuyển giao (BOT).
Ngày 02/04/2009, dự án mở rộng XLHN được khởi công xây dựng, dự kiến hoàn thành toàn bộ trục chính vào tháng 12/2014, tháng 12/2015 hoàn thành toàn bộ trục đường song hành phải, tháng 12/2018 hoàn thành toàn bộ trục đường song hành trái và toàn dự án.2 Theo tiến độ xây dựng hiện nay, khả năng chỉ có đoạn TP.HCM- Long Thành sẽ thông xe kỹ thuật vào năm 2014. Dự báo nhu cầu giao thông ở nghiên cứu khả thi dự án HLD trong 30 năm, từ năm 2013 đến năm 2042, do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB- Asian Developmet Bank ) và Công ty Đầu tư Phát triển Đường Cao tốc Việt Nam (Vietnam Expressway Corporation- VEC) thực hiện trên cơ sở lưu lượng giao thông trên các tuyến đường hiện hữu trong khu vực dự án, mạng lưới các tuyến đường có trong quy hoạch 101/QĐ-TTg và không mở rộng XLHN. Từ dự báo nhu cầu giao thông trên, dự án HLD được đánh giá là khả thi về mặt tài chính nếu được tài trợ bằng vốn ODA với mức phí lưu thông 900 VND/PCU/km trong thời gian khai thác từ 2013- 20423. Hai dự án sẽ được hoàn thành và đưa vào khai thác trong năm 2015 và đều được hoàn vốn dưới hình thức thu phí giao thông.
Tuyến XLHN mở rộng chia sẻ lưu lượng giao thông trên tuyến HLD. Khi đó, nhu cầu giao thông trên tuyến HLD sẽ không như dự báo ban đầu, và tính vững mạnh tài chính của hai dự án này sẽ thay đổi so với dự báo và ảnh hưởng đến việc trả nợ của các dự án. Từ lý do này, tác giả chọn đề tài “Đánh giá lại tính vững mạnh tài chính của các dự án Mở rộng XLHN và Cao tốc TP.HCM- Long Thành- Dầu Giây dựa trên dự báo mới về lưu lượng giao thông” làm chủ đề nghiên cứu của luận văn. 1 Tổng công ty Phát triển Đường Cao tốc Việt Nam (2009) 2 Công ty CP Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Mục tiêu, phương pháp và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là dự báo lại lưu lượng giao thông đầu năm 2015 ở hai dự án. Từ năm 2015 về sau, áp dụng tốc độ tăng trưởng lưu lượng giao thông theo nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB-2008) và Tổng Công ty Tư vấn Thiết kế Giao thông Vận tải (TEDI- 2008) để dự báo lưu lượng xe mỗi tuyến đường ở các năm tiếp theo. Căn cứ vào lưu lượng xe dự báo ở luận văn, tác giả phân tích tài chính và phân tích rủi ro tính vững mạnh tài chính dự án dựa trên tiêu chí DSCR, và từ đó, đưa ra các khuyến nghị chính sách. Phương pháp nghiên cứu là phân tích lưu lượng giao thông vào và ra TP.HCM theo hướng Đông- Bắc qua trạm thu phí XLHN so với tăng trưởng GDP của khu vực TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa- Vũng Tàu giai đoạn 2010-2012.
Từ đó, tính độ co giãn của cầu giao thông theo tăng trưởng GDP khu vực các tỉnh thành trên vào thời điểm cuối mỗi giai đoạn. Căn cứ vào tốc độ tăng GDP mục tiêu của các tỉnh thành do Bộ chính trị, Quốc hội đưa ra, tác giả tính tốc độ tăng cầu giao thông ở tương lai của khu vực. Dựa vào khung phân tích lợi ích và chi phí, luận văn đánh giá lại tính vững mạnh tài chính của dự án cao tốc HLD và Mở rộng XLHN. Cụ thể luận văn trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: Thứ nhất, căn cứ vào số liệu lưu lượng giao thông và tốc độ tăng trưởng GDP khu vực gần đây nhất, dự báo lưu lượng giao thông ở hai tuyến đường Xa lộ Hà Nội và cao tốc TP.HCM- Long Thành- Dầu Giây sẽ thay đổi như thế nào so với dự báo trong báo cáo khả thi của hai dự án? Thứ hai, tính khả thi tài chính của hai nhóm dự án trên như thế nào nếu lưu lượng giao thông trong tương lai khác so với trong báo cáo khả thi của hai dự án ? Từ kết quả các nghiên cứu trên, đề ra các kiến nghị chính sách đảm bảo quyền lợi của các nhà tài trợ vốn và chủ đầu tư cho hai dự án trên.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 2 : MÔ TẢ DỰ ÁN 2.1 Dự án đầu tư xây dựng cao tốc TP.HCM- Long Thành- Dầu Giây (HLD) Dự án HLD do Công ty Đầu tư Phát triển Đường cao tốc Việt Nam (VEC) làm chủ đầu tư. Dự án HLD giai đoạn 1 dài 55 km, bề rộng nền đường 27,5 mét với 4 làn xe, sau khi hoàn thành được vận hành dưới hình thức thu phí giao thông. Trong giai đoạn 2, HLD được mở rộng đến 42,5 mét với 8 làn xe. Phần lớn vốn đầu tư dự án HLD được tài trợ từ vốn vay ODA từ Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
Chính phủ Việt Nam tiếp nhận hai khoản vay này và cho VEC vay lại. Thực tế, dự án HLD khởi công xây dựng trễ một năm so với kế hoạch. Tác giả không có thông tin về tổng mức đầu tư theo tiến độ thực tế. Vì vậy, luận văn sử dụng mô hình tài chính cơ sở và chuyển tiến độ đầu tư ở mô hình cơ sở theo thời điểm khởi công thực tế.
Kế hoạch huy động vốn và trả nợ JBIC và ADB phù hợp với tiến độ xây dựng thực tế và thỏa thuận tín dụng ban đầu, được thể hiện chi tiết ở phụ lục lục 2.1: Cơ cấu vốn của dự án cao tốc TP.HCM- Long Thành- Dầu Giây Công ty Đầu tư Ngân hàng Hợp tác Ngân hàng Phát triển Phát triển đường cao Quốc tế Nhật Bản Châu Á tốc Việt Nam (VEC) (JBIC) (ADB) Vốn chủ sở hữu 0.46 triệu USD 0,51 441,91 triệu USD 441.69%) (44,88%) Dự án đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây (HLD) Nguồn: Tác giả vẽ theo thông tin của ADB (2008). Tổng chi phí đầu tư dự án HLD là 18.409,83 tỷ VND được ước tính ở thời điểm cuối năm 2008 theo giá danh nghĩa, bao gồm chi phí xây dựng, đất đai, đền bù, giải tỏa, rà phá bom mìn, dịch vụ tư vấn, quản lý, phí cam kết tài trợ, dự phòng tăng chi phí thực và dự phòng lạm phát, lãi vay trong thời gian xây dựng. Tiến độ đầu tư dự án được trình bày ở phụ lục 2. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Tốc độ trượt giá vật tư xây dựng cầu, đường bộ Luận văn giả định tốc độ trượt giá vật tư xây dựng cầu, đường bộ bằng lạm phát của đơn vị tiền sử dụng mua vật tư xây dựng.
Chi phí vốn dự án HLD: Dự án HLD được JBIC tài trợ 55,06% tổng chi phí đầu tư, ADB tài trợ 44,88% tổng chi phí đầu tư, vốn chủ sở hữu VEC chiếm 0,06% tổng chi phí đầu tư. Do vậy, chi phí vốn bình quân của dự án (WACC) gần bằng chi phí nợ vay. Tính toán ở mô hình cơ sở, chi phí nợ vay danh nghĩa của dự án tính theo VND là 6,72%/năm, và WACC dự án là 6,72%/năm. Phí giao thông và dự báo lưu lượng xe Mức phí giao thông dự kiến là 900 VNĐ/ một đơn vị xe quy đổi/km theo giá năm 2007, đã bao gồm thuế giá trị gia tăng với thuế suất 10%.
Phí giao thông được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát VND hằng năm. VEC được quyền thu phí giao thông trong 30 năm kể từ năm đầu tiên đi vào hoạt động (2015) cho đến hết năm 2044. Nhu cầu giao thông trên tuyến HLD do VEC và ADB dự báo đã tính đến lượng hành khách từ sân bay Quốc tế mới Long Thành, với giả định sân bay mới bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 20154.