CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số tác động của hoạt động sản xuất cơ khí đến môi trường 1. Một số đặc điểm về các làng nghề cơ khí Các làng nghề cơ khí tồn tại song song cùng các làng nghề tái chế kim loại, góp phần không nhỏ trong việc tiêu thụ sản phẩm từ các làng nghề tái chế kim loại.
Các làng nghề cơ khí sử dụng nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu và được xếp vào loại hình làng nghề tái chế kim loại. Số lượng làng nghề tái chế kim loại chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nhóm các làng nghề tái chế chất thải và phế thải. Trong tổng số 90 làng nghề tái chế thì làng nghề tái chế kim loại chiếm 81 làng nghề. Có thể kể đến một số làng nghề tái chế kim loại tiêu biểu như làng nghề cơ khí Tống Xá – Yên Xá – Nam Định; làng nghề đúc nhôm Vân Chàng - Nam Định; làng nghề đúc đồng Ngũ Xá – Hà Nội; làng đúc nhôm Mẫn Xá – Bắc Ninh…[4] Công nghệ tái chế kim loại đã góp phần giải quyết một lượng không nhỏ thép phế liệu như các đồ gia dụng bằng thép, các chi tiết máy móc đã cũ hỏng hay các vật dụng phế liệu từ kim loại.
Các phế liệu sắt thép này được phân thành các loại có kích thước khác nhau, thép có kích thước lớn được đưa đi cắt hơi, thép có kích thước nhỏ hơn được đưa qua lò nung, sau đó đưa vào máy cán, tùy theo loại sản phẩm cán mà kích thước và hình dạng lỗ cán phù hợp. Kim loại tái chế Phân loại Gia công sơ bộ Nấu (Tẩy rỉ, rửa) Cắt Đổ vào khuôn Hàn, dập, cán, kéo Thành phẩm Sản phẩm Hình 1. Quy trình tái chế kim loại tại các làng nghề [5] 3 Luan van Trong các làng nghề này tuy có thể khác nhau về quy trình sản xuất, quy trình công nghệ nhưng đều có một số đặc điểm chung sau: - Các làng nghề phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, nằm xen kẽ với khu dân cư, hình thành chủ yếu trên cơ sở hộ gia đình, kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. - Công nghệ sản xuất và thiết bị ở các làng nghề phần lớn lạc hậu, chắp vá.
Máy móc thiết bị sử dụng trong các làng nghề phần lớn là loại cũ, mua từ Trung Quốc hoặc mua thanh lý từ các nhà máy của Việt Nam, một số là sản phẩm tự tạo. Các thiết bị này có nguyên tắc làm việc đơn giản, được thiết kế tùy theo quy mô và điều kiện kinh tế của từng hộ sản xuất nên vấn đề bảo vệ môi trường hầu như chưa được quan tâm. Lò đốt tại các làng nghề tái chế kim loại chủ yếu là loại lò đốt thủ công lạc hậu, tuy nhiên các lò này đã được nâng cấp cải tiến phù hợp với yêu cầu của sản phẩm hiện nay. Đối với một số cơ sở sản xuất lớn, các công ty TNHH được doanh nghiệp tư nhân xây dựng tại các làng nghề lâu năm như Đa Hội, Vân Chàng.đã có cải tiến lớn về công nghệ, xây dựng và lắp đặt một số lò nung hiện đại cho phép nung được các sản phẩm chất lượng cao, độ dày mỏng khác nhau.giảm được ô nhiễm nhiệt và khí thải ra môi trường [4].
- Trình độ người lao động ở các làng nghề chủ yếu là lao động thủ công. Kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu, làm tăng phát thải, ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường. Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Hà Nội các làng nghề cơ khí có lượng sản phẩm lớn và duy trì được nghề là: làng nghề cơ khí Phùng Xá – xã Phùng Xá – huyện Thạch Thất; làng nghề rèn thôn Đa Sỹ – phường Kiến Hưng – quận Hà Đông; làng nghề cơ khí thôn Rùa Thượng, cơ khí thôn Gia Vĩnh, cơ khí thôn Rùa Hạ, kim khí thôn Dụ Tiền, kim khí thôn Từ Am – xã Thanh Thùy – huyện Thanh Oai; làng nghề kim khí thôn Liễu Nội – xã Khánh Hạ – huyện Thường Tín;.Sản phẩm của một số làng nghề cơ khí của Hà Nội được thể hiện ở bảng 1. Sản phẩm của một số làng nghề cơ kim khí của Hà Nội TT Làng nghề Sản phẩm 1 Phùng Xá Đinh, bản lề, dây thép, cửa sếp, thép xây dựng 2 Đa Sĩ Dao, kéo các loại 3 Liễu Nội Lò so, chân chống xe đạp, xe máy, khoá dây… 4 Rùa Hạ Bản lề, cửa hoa, cửa sếp, phụ tùng xe đạp, đồ điện… 5 Rùa Thượng Đinh, bản lề, đồ điện, chi tiết xe đạp, xe máy… Nguồn:Nguyễn Trần Điện, 2016 [6] 4 Luan van Làng nghề rèn thôn Đa Sỹ quận Hà Đông có nghề rèn truyền thống đã hình thành và phát triển hàng trăm năm nay.
Trước năm 1996, cả làng chỉ có hơn 300 lò rèn, sản lượng trung bình hàng năm chỉ hơn 2 triệu sản phẩm/năm. Những sản phẩm này được một số gia đình khá giả làm nhiệm vụ thu gom và tiêu thụ khắp cả nước. Đến năm 2017, làng có khoảng 900 hộ làm nghề rèn với số lượng lao động địa phương và lân cận khoảng 5. Sản phẩm rèn tập trung vào hai mặt hàng chính là dao và kéo, đa dạng về chủng loại, kiểu dáng, kích thước.
Đa số các hộ gia đình đã đưa máy móc vào sản xuất. Nhờ vậy, đời sống nhân dân đã được cải thiện, sản phẩm làm ra tạo được uy tín với người tiêu dùng trên cả nước [5]. Làng nghề kim khí thôn Gia Vĩnh huyện Thanh Oai, từ những sản phẩm đơn giản như đinh, bản lề…đến nay bằng sự cần cù sáng tạo của người dân, cộng với sự đầu tư một số máy móc cho sản xuất nên sản phẩm làm ra đã rất đa dạng, thu hút hơn 70% số lao động trong thôn. Bằng sự phấn đấu của mình, sản phẩm kim khí truyền thống của làng nghề kim khí Gia Vĩnh đã được tiêu thụ rộng rãi trên khắp cả nước.
Làng nghề kim khí thôn Liễu Nội huyện Thường Tín, hiện nay sản phẩm chủ yếu của làng nghề là lò so chân chống xe máy, xe đạp, lò so để làm xương ghế. Nhiều gia đình đã bắt đầu sản xuất một số chi tiết phụ của xe máy, xe đạp, khoá dây…Nghề cơ khí ở đây chủ yếu vẫn làm thủ công, việc trang bị máy móc còn rất ít [7]. Làng nghề cơ khí Phùng Xá huyện Thạch Thất là làng nghề cơ kim khí lớn của tỉnh Hà Tây cũ. Nghề có từ lâu đời nhưng trước đây chỉ dừng ở việc sản xuất cày bừa, cuốc, xẻng.
Sau này đã phát triển sản xuất xe cải tiến, bản lề, cửa xếp, xiên hoa. Các năm trở lại đây, làng nghề nấu thép, cán thép, làm ống nước và còn có tới trên 20 bể mạ, nghĩa là khép kín dây chuyền sản xuất từ khâu đầu đến khâu cuối. Trang thiết bị máy móc, công nghệ ở đây đã được công nghiệp hoá rất nhiều so với các làng nghề cơ khí khác trên địa bàn thành phố. Làng Rùa huyện Thanh Oai đã bỏ sản xuất sản phẩm nhỏ lẻ với lò rèn cổ truyền, trang bị máy móc chuyển sang sản xuất phụ tùng xe đạp, xe máy, máy cơ khí nhỏ và phụ tùng như ốc, vít bằng công nghệ mới, có thu nhập cao hơn.
Làng Rùa đã có từ 40 đến 50 xưởng sản xuất cơ khí lớn với khoảng 30 lao động, xưởng nhỏ 10 lao động, mỗi xưởng sản xuất lớn có 12 - 15 máy. Trong làng có 75% số hộ sản xuất phụ tùng xe máy, 5% số hộ làm dịch vụ cho các xưởng [8]. Làng nghề cơ khí Rùa Thượng trước đây sản phẩm chủ yếu là đinh, bản lề, yên xe đạp. Đến nay với quy mô sản xuất lớn hơn, làng nghề đã có nhiều thay đổi.
Một số hộ đã đầu tư máy công cụ, máy đột dập trăm tấn tạo dây chuyền sản xuất khép kín làm phong phú thêm các mặt hàng. Bên cạnh những sản phẩm truyền thống, còn có các mặt hàng vật liệu xây dựng, vật liệu đồ điện, các chi tiết xe đạp, xe máy. 5 Luan van Làng nghề cơ khí thôn Rùa Hạ, với hơn 80% số hộ sản xuất, quy mô sản xuất thành nhà xưởng, các dây chuyền sản xuất khép kín, làng nghề ngày càng phát triển. Sản phẩm rất đa dạng gồm: bản lề, cửa hoa, cửa xếp, phụ tùng xe đạp, đồ điện gia dụng…có chất lượng cao, thích ứng với thị trường trong nước [8].
Một số loại nguồn thải cơ bản trong hoạt động sản xuất cơ khí a) Bụi và khí thải Hoạt động sản xuất cơ khí phát sinh bụi, khí thải từ các hoạt động như: vận chuyển nguyên vật liệu, gia công kim loại, nấu, cán. Quá trình vận chuyển nguyên vật liệu tới các làng nghề phát sinh bụi từ khói thải của xe chuyên chở. Ngoài ra một phần bụi bám trên bề mặt kim loại do chứa các tạp chất đất đá… cũng phát tán vào môi trường không khí. Hàm lượng cao của bụi trong không khí có tác động tiêu cực đến môi trường sống của con người và hệ sinh thái trong khu vực.
Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước ta, bụi trong không khí rất dễ trở thành tác nhân gây nhiễm khuẩn đường hô hấp mãn tính cũng như các bệnh về da và đường tiêu hoá. Bên cạnh đó lượng bụi lắng trong không khí có thể cản trở quá trình quang hợp của thực vật dẫn tới sự giảm sút năng suất của hệ sinh thái nói chung và cây trồng nói riêng [5]. Quá trình gia công sơ bộ kim loại phát sinh một lượng lớn bụi chứa kim loại nặng và bụi của vật liệu độc hại. Trong quá trình nấu, người ta thường dùng than, củi.
Việc đốt than phát sinh một lượng lớn bụi, khói và các khí ô nhiễm như CO2, SO2, NOx và chất hữu cơ bay hơi. Hoạt động cơ khí nói riêng và tái chế kim loại nói chung sử dụng một lượng lớn than, chính vì thế mà thải lượng ô nhiễm của nó cũng là lớn nhất. Khí thải phát sinh từ quá trình nấu chảy nguyên liệu. Do trong nguyên liệu có dính nhiều tạp chất cũng như các lớp sơn, mạ bị cháy và thải vào không khí lượng khói bụi, khí thải lò đốt.
Quá trình nhúng rửa, mạ sản phẩm với hỗn hợp hóa chất độc hại đựng trong các bể, thùng chứa, không được đậy nắp khiến cho không gian phân xưởng ô nhiễm bởi mùi ngột ngại. Ngoài ra, hơi axít, hơi kiềm, hơi kim loại, hơi hoá chất từ các quá trình hàn chập, quá trình mạ, lò nấu kim loại và hoạt động của các xưởng rút sắt dây là các nguồn phát thải các khí gây ô nhiễm này.