Chương 1 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG – KHUNG PHÂN TÍCH DÀNH CHO ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG Mục tiêu - Định nghĩa khái niệm phát triển bền vững và lượt qua lịch sử của khái niệm này. - Minh họa một số biểu trưng (representation) và hình thức sử dụng khái niệm phát triển bền vững. - Đánh giá những đổi mới mà khái niệm phát triển bền vững mang lại trong những lĩnh vực khác nhau. - Tổng kết về một công cụ phát triển bền vững: đánh giá môi trường.
Khái niệm phát triển bền vững (sustainable development) xuất hiện trong thập niên 1980 để phản kháng những tác động xấu đối với thiên nhiên và con người do lối phát triển vô tội vạ trước đây, bất chấp giới hạn của tài nguyên thiên nhiên và sức chịu đựng của môi trường, và cũng để phản ứng lại sự thiếu hiệu quả của kiểu phát triển cổ điền không có khả năng mang lại sự tiến bộ về mặt xã hội. Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED/CMED) là tổ chức có nhiệm vụ đẩy mạnh sự triển khai của khái niệm này trên bình diện quốc tế, Ủy ban này đưa ra định nghĩa như sau: đó là cách phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại, đồng thời không phương hại đến khả năng tự giải quyết nhu cầu của những thế hệ tương lai (WCED,1988). Ủy ban này, còn được gọi là Ủy ban Brundtland, đã phổ biến khái niệm phát triển bền vững vào tất cả mọi giới; đại chúng và từng cá nhân một, chính phủ các nước công nghiệp, các nước đang trong quá trình chuyển đổi hoặc đang phát triển, các chính đảng, các ngân hàng, các đại doanh nghiệp, các nghiệp đoàn, các tổ chức phi chính phủ, tất cả đều sử dụng khái niệm này và tái định nghĩa nó theo lĩnh vực quan tâm của mình. Sự ủng hộ rộng rãi nói trên là do nó mang lại được một thế dung hòa giữa mô hình phát triển bừa bãi bất chấp môi trường, và khuynh hướng bảo vệ môi trường một cáh cực đoan; cũng nhờ WCED đã mập mờ không nói rõ mức quan tâm cần dành cho bất cứ chiều kích nào của sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên WCED không chỉ xem sự phát triển bền vững như một khẩu hiệu biện minh cho một số các vụ đầu tư hay một số hành vi. Đối với họ, việc thực hiện phát triển bền vững phải thông qua những biến đổi sâu rộng vỀ mặt xã hội. Nó đòi hỏi phải đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân, phải sử dụng tài nguyên thiên nhiên sao cho hợp lý và lâu bền, phải bảo tồn các hệ sinh thái và các quy trình của sự sống, phải có sự hợp tác giữa các dân tộc và sự liên đới giữa thế hệ hiện tại với các thế hệ tương lai. Thế nhưng ngay từ đầu khái niệm này đã mang một số cách hiểu khác nhau về ý nghĩa cũng như về các hậu quả trên toàn xã hội.
Trong chương này, trước tiên chúng ta sẽ lượt qua lịch sử xuất hiện của khái niệm phát triển bền vững. Sau đó chúng ta sẽ minh họa các biểu trưng và 5 cách sử dụng khác nhau của nó và chúng ta sẽ đánh giá những đổi mới mà nó mang lại trong các lĩnh vực khác nhau. Cuối cùng chúng ta sẽ nêu lên những hạn chế của nó và những thách thức mà nó mang lại đối với công việc đánh giá môi trường. KHÍA CẠNH LỊCH SỬ Có thể khẳng định rằng lịch sử của khái niệm phát triển bền vững gắn chặt với phong trào bảo vệ môi trường vào nửa cuối của thế kỷ XX.
Chúng tôi không hề ngụ ý rằng ở những thập niên trước đó chưa có ai quan tâm đến môi trường; tác phẩm của Georges Perkins Marsh (1801-1882) đã từng nhấn mạnh đến tác động của Con Người lên Môi Trường (Marsh, 1965). Chúng tôi đơn giản chỉ muốn nói rằng nổ lực quốc tế nhằm dung hòa các vấn đề xã hội, sự phát triển và môi trường chỉ diễn ra trong vòng 40 năm gần đây thôi. Về điều này, nhiều người đã nhìn nhận vai trò quan trọng của tác phẩm Mùa xuân yên lặng của Rachel Carson (1962). Năm 1968, Câu lạc bộ Rôma1 nhận thấy môi trường xuống cấp và dân số tăng nhanh trên toàn thế giới, và đã cho tiến hành một nghiên cứu dự báo những hậu quả của việc duy trì tăng trưởng trên các tài nguyên, sự phát triển công nghiệp, hiện tượng ô nhiễm và người dân.
Báo cáo của nghiên cứu này tựa đề Hãy chặn đứng sự tăng trưởng ra mắt vào năm 1970 có tác dụng như một quả bom (Meadows et al. Các mô phỏng do nhóm nghiên cứu của Massachussetts Institute of Technology thực hiện đã dẫn đến kết luận rằng cần phải tiến hành những thay đổi sâu rộng về hành vi nếu muốn tránh khỏi một thảm họa kinh tế và xã hội vào giữa thế kỷ XXI. Thậm chí người ta còn hô hào không tăng trưởng. Cuối báo cáo, các tác giả khuyến nghị nên dựa vào sự kiểm soát dân số toàn thế giới, giảm sử dụng các tài nguyên không phục hồi, phát triển công nghiệp, làm chủ năng lượng, và giáo dục môi trường cho công dân.
Tuy nhũng viễn cảnh mang tính tận thế ấy bị tranh cãi quyết liệt và có phần được phóng đại, song nghiên cứu đầu tiên này đã có tác dụng đánh thức suy nghĩ của nhiều người2. Chỉ bắt đầu từ năm 1972 mới thực sự thấy những quy định mang tính pháp quy cấp quốc gia và quốc tế ra đời nhằm bảo vệ môi trường thông qua kiểm soát ô nhiễm và ngăn ngừa thiệt hại cho hệ sinh thái nhờ công cụ nghiên cứu đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Điều chắc chắn là điểm xuất phát cho hành động môi trường toàn cầu chính là Hội Nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường con người tại Stockholm năm 1972, với sự tham dự của 113 quốc gia. Hội nghị cấp thế giới đầu tiên về Con Người và môi trường đã đạt được mục tiêu là đưa môi trường vào chương trình nghị sự quốc tế.
Hội nghị còn đề xuất một kế hoạch chống ô nhiễm và chủ trương cảnh giác bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên; ngoài ra Hội nghị cũng đề xuất một kế hoạch hành động xóa hiện tượng chậm phát triển. Bản Tuyên ngôn của Hội nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa vấn đề môi trường vào quy hoạch, và 1 Có thể xem chi tiết về Câu lạc bộ Rôma tại địa chỉ www. 2 Để cập nhật báo cáo Meadows, xin xem Meadows et al.,1992 6 của nỗ lực bảo vệ và nâng cấp môi trường. Đây là một chiến lược mới dựa vào việc sử dụng khôn ngoan các nguồn lực con người và tài nguyên thiên nhiên ở cấp địa phương và cấp vùng, và chính chiến lược này đã khai sinh ra khái niệm phát triển phù hợp sinh thái (écodéveloppement) do tổng thư ký của Hội nghị Maurice Strong khởi xướng vời định nghĩa “đó là những kiểu phát triển phù hợp về mặt sinh thái” (Sachs et al.
Cũng cần lưu ý rằng khái niệm phát triển phù hợp sinh thái, tuy không có sự thành công về truyền thông đại chúng như khái niệm phát triển bền vững, nhưng đến nay vẫn còn được sử dụng trong giới học thuật và cơ quan chính quyền. Nghịch lý thay, nó phát sinh từ một hội nghị LHQ nhưng lại bị loại trừ không sử dụng trong các cơ quan LHQ. Đại hội LHQ đưa ra nghị quyết (Nghị quyết 37/7 ngày 28 tháng 10 năm 1982) thông qua Hiến chương Thế giới về Thiên nhiên. Nguyên tắc 11 trong Hiến chương này quy định rằng : Những hoạt động nào có thể ảnh hưởng đến thiên nhiên sẽ được kiểm soát, và những kỹ thuật tốt nhất trong tầm tay có khả năng giảm thiểu nguy cơ hoặc giảm thiểu các ảnh hưởng xấu trên thiên nhiên sẽ được ứng dụng, đặc biệt là: a) sẽ tránh không tiến hành những hoạt động có nguy cơ gây ảnh hưởng không đảo ngược lên thiên nhiên; b) những hoạt động ẩn chứa nguy cơ cao đối với thiên nhiên phải được xem xét kỹ lưỡng trước khi thực hiện; c) Những hoạt động có thể gây xáo trộn cho thiên nhiên đòi hỏi phải có đánh giá trước các hậu quả, và các nghiên cứu về tác động của những dự án phát triển lên thiên nhiên phải được tiến hành đủ sớm trước dự án ; nếu như dự án được thực hiện thì phải được hoạch định và tiến hành theo cách giảm thiều tối đa các ảnh hưởng xấu.
Thất bại trong một chừng mực nào đó của Hội nghị Nairobi năm 1982 cộng thêm áp lực các quốc gia phía Nam đã thúc đẩy LHQ ra Nghị quyết 38/161 năm 1983 thành lập Ủy ban Thế giới vế môi trường và phát triển. Ủy ban di động này, với chủ tịch là Bà Gro Harlem Brundtland, lúc bấy giờ đang là Thủ Tướng Na Uy, đã công du qua 8 quốc gia từ 1983 đến 1987. Tại các nước này, Ủy ban đã tổ chức những buổi thảo luận, những chuyến tham quan hiện trường và những buổi làm việc với công chúng (WCED, 1988 : 428). Ủy ban nhận nhiệm vụ đề ra một cách rõ ràng những chiến lược nhằm mang đến giải pháp lâu bền cho câu hỏi làm thế nào đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng của người thời nay mà không phương hại đến khả năng tự gải quyết các nguyện vọng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Bản báo cáo ra mắt năm 1987 (WCED, 1988) đưa ra danh sách các vấn đề môi trường quan trọng nhất đang đe dọa và cản trở sự phát triển của nhiều quốc gia phía Nam; báo cáo còn nhấn mạnh cần phải giảm tiêu thụ nguồn lực tài nguyên, nhất là nguồn năng lượng, ở các nước công nghiệp. Báo cáo còn tái khẳng định tầm quan trọng của việc dự kiến các tác động môi trường nhằm ngăn ngừa các thảm họa về con người và thiên nhiên. Ủy ban khuyến cáo phải có ngay những biện pháp về chính sách mang tính quyết định nhằm quản lý các tài nguyên bảo đảm cho sự tiến bộ lâu bền và sự tồn tại của nhân loại. Qua quá trình này, Ủy ban đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững mà nguồn gốc là khái niệm phát triển phù hợp sinh thái, như sau : “Đó là cách phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện 7 tại, đồng thời không phương hại đến khả năng tự giải quyết nhu cầu của những thế hệ tương lai” (WCED,1988 : 10).