MỞ ĐẦU Phá (coastal lagoon) là một loại hình thủy vực ven bờ, phía ngoài ngăn cách với biển bởi một hệ thống các doi cát chắn (sand barrier) dọc bờ và thông với biển bởi một hoặc vài cửa [12]. Các đầm phá ven biển là một loại hình thủy vực rất tiêu biểu ở dải ven bờ miền Trung nƣớc ta. Ở đây có tất cả 12 đầm phá với tổng diện tích khoảng 447,8 km2, lớn nhất là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng tới hơn 216 km2, nhỏ nhất là đầm Nƣớc Mặn với khoảng 2,8 km2. Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một hệ thống các đầm nối với nhau từ Bắc xuống Nam là phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú, đầm Thanh Lam, đầm An Truyền và đầm Cầu Hai chạy dài qua địa phận năm huyện, thị xã của tỉnh Thừa Thiên Huế gồm Phong Điền, Quảng Điền, Hƣơng Trà, Phú Vang và Phú Lộc.
Giữa đầm phá và biển ngăn cách bởi các đồi cát cao, có nơi cao đến trên 20m. Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai nằm cách cố đô Huế khoảng 7 km về phía Đông Bắc, ở tọa độ địa lý 16°42′ - 16°14′ B và 107°22′ - 107°57′ Đ, kéo dài gần 70 km dọc từ huyện Phong Điền đến huyện Phú Lộc với tổng diện tích khoảng 21.620 ha, nơi rộng nhất có thể đạt đến 10 km và hẹp nhất dƣới 1km. Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đƣợc nối liền với Biển Đông bởi cửa Thuận An ở phía Bắc và cửa Tƣ Hiền ở phía Nam. Tại đây chứa đựng hàng trăm loài động vật, thực vật có giá trị kinh tế, tạo ra hàng nghìn tấn sản phẩm góp phần nuôi sống trên 500.000 ngƣời dân sống ở 5 huyện xung quanh đầm phá [16].
Sự khai thác các nguồn lợi tự nhiên và tiến hành nuôi trồng thủy, hải sản trong không gian đầm phá phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội là điều hiển nhiên. Nhƣng sự khai thác quá mức hoặc khai thác không theo một kế hoạch quản lý phù hợp dẫn đến cạn kiệt một số loài sinh vật có giá trị kinh tế cao nhƣ: cua bùn, cá mú, cá dìa, tôm he,… là vấn đề cần bàn đến. Những hậu quả của các tác động đó ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống của dân cƣ ven đầm phá, không những thế, nó còn tác động ngƣợc trở lại với sự phát triển của các nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản trong đầm. Mặt khác, việc khai 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác các nguồn lợi thủy, hải sản cùng với ô nhiễm môi trƣờng vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai do tác động của con ngƣời cũng ảnh hƣởng rất lớn môi trƣờng sống của nhiều loài thủy sinh vật, ảnh hƣởng đến tính chất các hệ sinh thái.
Với mục đích đóng góp cho công tác bảo tồn các hệ sinh thái vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai cũng nhƣ đề xuất một số giải pháp phục hồi nguồn lợi thủy sản khu vực này, đề tài “Đánh giá sự suy thoái và khả năng phục hồi hệ sinh thái đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế” đã đƣợc thực hiện. Mục tiêu của đề tài: - Đánh giá sự suy thoái của hệ sinh thái đầm phá Tam Giang - Cầu Hai thông qua sự biến động về diện tích phân bố, nguồn lợi một số nhóm sinh vật chủ đạo. - Đánh giá đƣợc khả năng phục hồi hệ sinh thái thông qua một số mô hình phục hồi đã và đang thực hiện. - Bƣớc đầu đề xuất một số giải pháp phục hồi nguồn lợi sinh vật.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về đầm phá ven biển Việt Nam Đầm phá là một loại hình thủy vực đặc sắc về mặt địa chất cũng nhƣ sinh thái học, một trong 4 loại hình thủy vực của đới ven bờ (coastal zone) bao gồm: vũng biển ven bờ (bay), đầm phá ven biển (coastal lagoon), cửa sông châu thổ (delta) và cửa sông hình phễu (estuary) [25]. Đầm phá ven biển đƣợc hình thành ở những vùng bờ có động lực mạnh, đặc biệt là động lực sóng, với các dòng bồi tích dọc bờ, thủy triều và sóng gây nên hiện tƣợng dịch chuyển vật chất trong khu vực, trong quan hệ tƣơng tác giữa lục địa và biển.
Về hình thái chung, đầm phá thƣờng có dạng một thủy vực kéo dài dọc bờ, ngăn cách với biển bởi hệ cồn cát kéo dài, một mặt thu nhận lƣợng nƣớc sông từ phía lục địa đổ vào qua các cửa sông, mặt khác thông với khối nƣớc biển qua một hay nhiều cửa về phía biển. Tuy nhiên, do vị trí của mỗi thủy vực ở từng khu vực có điều kiện địa chất, thủy văn, chế độ động lực phát triển khác nhau đã tạo nên các kiểu đầm phá khác nhau với độ lớn, hình thái cấu trúc, xu thế phát triển, tiến hóa khác nhau, dẫn đến các điều kiện sinh thái - sinh học khác nhau. Việc phân chia các kiểu đầm phá dựa trên sự phân dị của các đặc điểm trên, trên cơ sở sự thống nhất tƣơng đối của tính chất chung của thủy vực đầm phá, trong đó đặc điểm chủ yếu là chế độ thủy văn của đầm phá phụ thuộc vào khả năng trao đổi nƣớc giữa đầm phá và biển, vào cân bằng nƣớc diễn ra trong đầm phá giữa khối nƣớc sông và khối nƣớc biển, liên quan tới vị trí độ lớn của cửa mở đầm phá ra biển và các cửa sông đổ vào đầm phá [8,9]. Dải ven biển Việt Nam có một hệ thống đầm phá tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung, phân bố từ vĩ độ 16B tới 11B, từ Thừa Thiên - Huế tới Bình Thuận.
Các đầm phá tiêu biểu là Tam Giang - Cầu Hai, Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), Trƣờng Giang, An Khê, Nƣớc Mặn (Quảng Ngãi), Trà Ổ, Nƣớc Ngọt, Thị Nại (Bình Định), Cù Mông, Ô Loan (Phú Yên), Thủy Triều (Khánh Hoà), Nại (Ninh Thuận) [11,24]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc phân loại các đầm phá ở Việt Nam chỉ mới đƣợc đề cập tới trong những nghiên cứu gần đây (Trần Đức Thạnh và nnk, 1995) [24,28]. Kết hợp giữa các tiêu chuẩn lý luận và thực tiễn, vận dụng các phƣơng pháp đã đƣợc sử dụng trên thế giới (Nichols và Allen, 1981), chú trọng đặc điểm, trạng thái cửa mở và chế độ thủy văn đầm phá, bƣớc đầu có thể phân chia các đầm phá ven biển miền Trung nƣớc ta thành hai loại (bảng 1. Vị trí phân loại đầm phá miền Trung Việt Nam trong hệ thống phân loại đầm phá ven biển của thế giới Phân loại chung đầm phá Tên đầm phá ven biển thế giới Tam Giang - Cầu Hai, Trƣờng Giang, Thị Nại, Kiểu đầm phá gần kín Cù Mông, Thủy Triều, Trà Ô và Đầm Nại Lăng Cô, An Khê, Ô Loan, Nƣớc Ngọt, Kiểu đầm phá kín Nƣớc Mặn.
(Nguồn: Đặng Ngọc Thanh, 2009)[25] Kiểu I: Đầm phá kín, cửa mở rất hẹp, chế độ nƣớc mặn - lợ, độ mặn có thể tới trên 35‰. Thuộc kiểu loại này có các đầm: Lăng Cô, An Khê, Ô Loan, Nƣớc Mặn, Nƣớc Ngọt. Riêng đầm Trà Ổ cửa rất hẹp, nhƣng độ mặn ở mức nhạt lợ, thƣờng dƣới 5‰. Kiểu II: Đầm phá gần kín, cửa mở rộng, chế độ nƣớc lợ - lợ nhạt, độ mặn thƣờng chỉ thấp dƣới 30‰.
Thuộc kiểu loại này có các đầm: Tam Giang - Cầu Hai, Trƣờng Giang, Thị Nại, Cù Mông, Thủy Triều, Đầm Nại. Việc phân chia trên đây chỉ mang ý nghĩa tƣơng đối, trên thực tế có thể thay đổi theo từng thời gian, trong quá trình biến động, phát triển, tiến hóa của thủy vực. Với các đặc điểm chế độ thủy văn - trạng thái cửa mở liên quan đến chế độ nƣớc ngọt - lợ - mặn đã tạo cho mỗi đầm phá một khu hệ sinh thái riêng biệt [8]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể lấy các đầm phá là Tam Giang - Cầu Hai và Ô Loan nhƣ hai đại diện của hai kiểu loại đầm phá phổ biến ở ven biển miền Trung Việt Nam.
Đây cũng là hai thuỷ vực đƣợc nghiên cứu tƣơng đối nhiều trong thời gian vừa qua [25]. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 1. Cảnh quan vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai Kết hợp giữa các kết quả thu thập đƣợc từ nhiều nghiên cứu trƣớc với kết quả thu đƣợc từ hai đợt khảo sát bổ sung và kiểm tra từ 2013 - 2014 cho thấy môi trƣờng tự nhiên hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có thể chia thành 4 khu vực chính có đặc trƣng môi trƣờng thuỷ hoá và trầm tích khác nhau, tạo nên sự phân bố và phát triển khác nhau cho các hệ sinh thái trong toàn đầm phá. - Khu vực phá Tam Giang: với diện tích 5200 ha với các lạch triều sâu dần về phía cửa Thuận An và cồn cát nhỏ hai bên bờ.
Đó là các bãi cỏ nƣớc, cỏ biển tuy không lớn (chỉ vài chục ha) song có chất lƣợng tốt nhƣ các khu vực Cồn Sáo, Cồn Đĩnh, Cồn Đâu, Cồn Tè, Hải Tiến, Hải Dƣơng. Cùng với các thảm cỏ biển, các đầm nuôi trồng thủy sản đƣợc xây dựng trên vùng triều ven đầm phá và các lạch nƣớc dƣới triều. - Khu vực đầm Sam: địa hình tƣơng đối bằng phẳng với diện tích khoảng 1620 ha, sâu 1,5 m ở phía Hoà Duân, 0,5 m phía Phú An, Phú Thuận, Phú Hải và lạch triều ngầm sâu 4-5m phía cửa Thuận An. Trầm tích nền đáy chủ yếu là bùn cát cùng với độ muối từ 7-10‰ trong mùa mƣa và 18-20‰ trong mùa khô, ổn định hơn các khu vực khác đã tạo điều kiện cho cỏ biển phát triển thành các thảm khá lớn tới hàng trăm ha.
Trên vùng triều rộng lớn khu Đầm Sam - Cồn Hợp Châu là các khu đầm nuôi trồng thủy sản dày đặc. - Khu vực đầm Thuỷ Tú: có diện tích khoảng 3600 ha, là một lạch triều ngầm sâu trung bình 2m, tạo ra thảm cỏ biển khá lớn tại các khu vực Phú Xuân, Vinh Xuân, Vinh Thanh. Ven đầm Thủy Tú là hệ thống dày đặc các đầm nuôi trồng thủy sản và các ruộng lúa, hoa màu trồng vào mùa mƣa và trở thành các bãi chăn thả gia súc vào mùa khô. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khu vực đầm Cầu Hai: có hình bán nguyệt, cung tròn hƣớng về phía huyện Phú Lộc, với diện tích tới 11.200 ha, và độ sâu trung bình 1 - 1,5 m.
Trong đầm Cầu Hai có các khu vực Ba Cồn, Cồn Lậy các bãi triều ven đầm thuộc Lộc Bình, Đá Bạc,. đáy cát bùn đều có các thảm cỏ biển và cỏ nƣớc phân bố thành các thảm có diện tích từ vài chục đến hàng trăm ha.