Chương I đã nêu lên các cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài. Chương II sẽ trình bày hai phần chính: Phần 1 là khái quát về hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam và hoạt động của Công ty TNH H Kiểm toán và Tư vấn (A & C); Phần 2 tập trung đưa ra mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết được đề nghị.1 Khái quát về hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam v à hoạt động của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A & C) 2.1 Khái quát về hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam Hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam ra đời năm 1991 v à ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nếu năm 1991 chỉ có 2 công ty kiểm toán độc lập v à 15 nhân viên thì đến ngày 22 tháng 5 năm 2008 cả nước đã có 137 công ty (xem PHỤ LỤC A) với hơn 5 nghìn nhân viên, cung cấp hơn 20 loại dịch vụ nghề nghiệp cho khách hàng. Trong số 137 CTKT thì có 28 công ty được chấp thuận kiểm toán tr ên TTCK, tức là các CTKT được kiểm toán các công ty c ổ phần niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ theo Công văn 642/UBCK – QLPK ngày 16 tháng 4 năm 2008 c ủa Ủy Ban chứng khoán Nhà nước về việc công khai danh sách doanh nghiệp kiểm toán đ ược chấp thuận kiểm toán 2008 cho các tổ chức phát h ành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán.
(xem PHỤ LỤC B) Về lĩnh vực cung cấp dịch vụ: các công ty đều cung cấp các loại dịch vụ t ương tự nhau, tỷ trọng dịch vụ kiểm toán vẫn l à lớn nhất. Dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, thuế chiếm tỷ trọng cao hơn ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và còn hạn chế ở các công ty trong nước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thuộc mọi th ành phần kinh tế chưa có nhu cầu và chưa thực sự tin tưởng vào các dịch vụ tư vấn tài chính, thuế, kế toán, quản lý do các công ty kiểm toán cung cấp. Từ năm 2006 trở lại đây, c ùng với sự phát triển mạnh mẽ của TTCK, môi tr ường kinh tế của Việt Nam càng đòi hỏi tính minh bạch trong thông tin t ài chính.
Bên cạnh đó, nhu cầu tư vấn tài chính của các doanh nghiệp ng ày càng lớn, cần những nhà cung cấp thật sự có đẳng cấp. Các công ty kiểm toán n ước ngoài với lợi thế về thương hiệu và nhân lực cấp cao đang "ép sân" các công ty kiểm toán trong n ước. Trang 20 Luận văn thạc sỹ Đại học kinh tế TP.HCM Tuy nhiên, trong đội ngũ kiểm toán viên nước ta hiện nay chỉ có 888 kiểm toán vi ên hành nghề có chứng chỉ kiểm toán viên (thống kê của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam - VACPA), trong số đó chỉ có khoảng 300 ng ười có chứng chỉ kiểm toán vi ên quốc tế. Tính bình quân mỗi công ty kiểm toán mới chỉ có 6,5 kiểm toán vi ên có chứng chỉ.
Có một số công ty kiểm toán ch ỉ có 3 kiểm toán viên, có trường hợp công ty chỉ với vỏn vẹn 4 khách hàng. Con số này đã cho thấy, lực lượng KTV của VN quá mỏng v à yếu, trong khi nhu cầu và các sản phẩm hoạt động KT ng ày càng tăng cao; nhất là trong bối cảnh sự vận hành của kinh tế VN đang gắn liền với đòi hỏi minh bạch tài chính; đặc biệt là nhu cầu bùng phát của thị trường chứng khoán hiện nay. Các chỉ tiêu hoạt động chủ yếu của các Công ty kiểm toán năm 2007 gồm: tổng số lượng nhân viên, tổng số KTV, tổng doanh thu, tổng số l ượng khách hàng đã nêu lên bức tranh tổng thể về hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam (Xem PHỤ LỤC A).1 Bảng phân tích 10 Công ty kiểm toán đứng đầu Việt Nam Tổng số Tổng Tổng Tổng Doanh thu Tên công ty kiểm Tên viết nhân viên số doanh thu SL BQ trên 1 STT toán tắt KTV (triệu khách Khách hàng đồng) hàng (triệu đồng) Công ty TNHH Deloitte 01 313 59 118,655.00 644 184 Deloitte Việt Nam ViệtNam Công ty Dịch vụ Tư 02 vấn Tài chính Kế toán AASC 174 39 42,966.00 1299 33 và Kiểm toán Công ty TNHH Ernst 04 E&Y 389 67 189,414.00 653 290 & Young Việt Nam Công ty Kiểm toán và 05 AISC 154 25 25,827.00 815 32 Dịch vụ Tin học Công ty TNHH Price 06 Waterhouse Coopers PwC 363 42 174,992.00 829 211 Việt Nam 07 Công ty TNHH KPMG 499 54 192,992.00 937 206 Trang 21 Luận văn thạc sỹ Đại học kinh tế TP.HCM KPMG Việt Nam Công ty TNHH Kiểm 08 A&C 287 69 55,764.00 1344 42 toán và Tư vấn Công ty TNHH Grant 09 G.00 - Thornton Việt Nam Công ty TNHH Kiểm 10 toán và Định giá Việt VAE 125 13 26,200.00 902 29 Nam Nguồn: Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) (22/5/2008), Tài liệu họp thường niên Giám đốc các Công ty kiểm toán trong cả n ước năm 2007/2008, Hà Nội. Bảng phân tích trên cho thấy, nếu xét về quy mô doanh số (doanh thu phí hoạt động các công ty kiểm toán) thì 4 công ty kiểm toán nước ngoài (Big four) chiếm vị trí hàng đầu, trong đó Công ty TNHH KPMG Việt Nam có doanh số cao nhất (192,992 triệu VND), tiếp đến là Ernst & Young Việt Nam (189,414 triệu VND), Price Waterhouse Coopers Việt Nam (174,992 triệu VND) và Deloitte Việt Nam (118,655 triệu VND).
Các công ty kiểm toán trong nước thì A & C chiếm vị trí hàng đầu và vị trí thứ 5 trong danh sách các CTKT (55,764 triệu VND), tiếp đến là Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) có doanh thu l à 42,966 triệu VND và đứng vị trí thức 3 là Công ty TNHH kiểm toán và định giá Việt Nam (VAE) ( 26,200 triệu VND). Nếu xét về số lượng khách hàng thì A & C có số lượng khách hàng cao nhất (1344), theo sau là AASC (1299), đ ứng vị trí thứ 3 là KPMG (937). Tuy nhiên, Qua bảng phân tích cũng cho thấy mặc dù số lượng khách hàng chiếm vị trí cao hơn các Công ty kiểm toán nước ngoài, nhưng xét về doanh thu bình quân trên một khách hàng thì các Công ty kiểm toán trong nước thấp hơn nhiều, cụ thể Ernst & Young Việt Nam là 290 triệu/khách hàng, Price Waterhouse Coopers Vi ệt Nam (211 triệu/khách h àng), KPMG Việt Nam (206 triệu/khách hàng), Deloitte Việt Nam (184 triệu/khách hàng). Trong khi đó A & C giá trị này là 41,5 triệu/khách hàng, AASC là 33 triệu/khách hàng… Nguyên nhân chủ yếu cho sự chênh lệch lớn này là do bên cạnh các Công ty kiểm toán n ước ngoài có thương hiệu hàng đầu thế giới, họ cung cấp dịch vụ cho các công ty có quy mô lớn và các công ty đa quốc gia, ngoài dịch vụ kiểm toán thì khoản thu đáng kể của họ là từ hoạt Trang 22 Luận văn thạc sỹ Đại học kinh tế TP.HCM động tư vấn mà họ đã cung cấp cho khách hàng.
Ngược lại, đối với các CTKT trong nước đối tượng khách hàng chủ yếu là các Công ty trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài quy mô vừa và nhỏ, doanh thu chủ yếu của của họ l à doanh thu phí kiểm toán BCTC, doanh thu cung cấp dịch vụ tư vấn là không đáng kể. Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán vẫn c òn nhiều hạn chế, qui mô thị tr ường kiểm toán còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng và tốc độ tăng trưởng của kinh tế-xã hội. Khách hàng kiểm toán hiện nay chủ yếu l à kiểm toán theo luật định bắt buộc. Trong mấy năm qua, các công ty kiểm toán mới được thành lập nhiều dẫn đến sự cạnh tranh giữa các công ty kiểm toán ngày càng gay gắt, cả về chất lượng dịch vụ và giá phí.
Khách hàng kiểm toán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và tư nhân còn rất ít do Luật Doanh nghiệp chưa qui định bắt buộc phải kiểm toán BCTC, mặt khác sự hiểu biết của các doanh nghiệp về lĩnh vực này còn hạn chế. Các doanh nghiệp Việt Nam ch ưa có thói quen sử dụng dịch vụ tư vấn thay cho hướng dẫn của cơ quan quản lý Nhà nước. Khách hàng yêu cầu cơ quan kiểm toán chủ yếu là bị bắt buộc theo yêu cầu của luật định chứ không phải do tự nguyện. Một hạn chế lớn khác xuất phát từ nhận thức, các doanh nghiệp ch ưa hiểu rõ được vai trò của kiểm toán trong chiến lược phát triển lâu dài của mình.
Hiện tại, chủ yếu khách hàng của các công ty kiểm toán trong n ước là kiểm toán theo luật định. Nhiều doanh nghiệp vẫn có khái niệm “bị kiểm toán” chứ không phải là “được kiểm toán”, vì vậy, cần thúc đẩy tuyên truyền về lợi ích của các hoạt động của kiểm toán bằng nhiều kênh khác nhau.2 Hoạt động của Công ty TNHH Kiểm toán v à Tư vấn (A & C) A&C, tiền thân là Công ty Kiểm toán và Tư vấn (A&C) trực thuộc Bộ T ài chính, là một trong bốn công ty kiểm toán độc lập h àng đầu của ngành Kiểm toán Việt Nam. Khởi nghiệp từ năm 1992, A&C đ ã chú trọng cung cấp các dịch vụ về kiểm toán v à tư vấn thuộc các lĩnh vực kế toán – tài chính – đầu tư – quản trị. Sau thời gian hoạt động d ưới hình thức Công ty cổ phần (từ cuối năm 2003) Công ty đã chính thức hoạt động dưới hình thức Công ty TNHH hai th ành viên trở lên kể từ tháng 02 năm 2007 theo yêu cầu của các quy định về hoạt động kiểm toán độc lập.
Trong nhiều năm hoạt động liên tục, A&C phát triển thành công mạng lưới các chi nhánh tại các trung tâm kinh tế lớn trong nước: Hà Nội, Nha Trang, và Cần Thơ. Ngành Trang 23 Luận văn thạc sỹ Đại học kinh tế TP.HCM nghề và loại hình dịch vụ cũng phát triển đa dạng h ơn nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường. Hiện nay, A&C đang tập trung t hực hiện các dịch vụ như sau: - Kiểm toán Báo cáo tài chính – Kiểm toán hoạt động – Kiểm toán tuân thủ - Kiểm toán nội bộ - Kiểm toán thông tin tài chính. - Kiểm toán: Báo cáo quyết toán vốn đầu t ư xây dựng cơ bản – Báo cáo quyết toán Dự án – Báo cáo quyết toán công trình – Báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án.
Giám định tài chính kế toán – Thẩm tra dự án – Xác định giá trị doanh nghiệp.