Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cấu trúc không gian đô thị hiện đại, cây xanh đóng vai trò thiết yếu đối với việc điều hòa vi khí hậu, hấp thụ các chất ô nhiễm không khí ($CO_2, SO_2, CO$), giảm thiểu nồng độ bụi, hạn chế tiếng ồn và tạo dựng mỹ quan cảnh quan đô thị. Đối với các tuyến giao thông mới hình thành, việc quy hoạch và quản lý hệ thống cây xanh không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn bảo đảm an toàn giao thông và định hướng phát triển bền vững. Tuyến đường Lý Thánh Tông (huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) là trục giao thông có chiều dài 4,2 km, mặt cắt ngang rộng 40 m, nối từ Quốc lộ 5 đến đường đê Long Biên - Xuân Quan (xã Đông Dư), đi qua các khu đô thị và cơ sở hạ tầng lớn như Khu đô thị Vinhomes Ocean Park, Khu sản xuất giống cây trồng đặc sản của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, trại cây giống Mạnh Yến, đình làng An Đào và doanh trại quân đội. Sau khi được đặt tên và gắn biển vào tháng 1/2021, hệ thống cây xanh trên tuyến đường bước vào giai đoạn thiết lập và sinh trưởng, đòi hỏi phải có sự đánh giá khoa học về hiện trạng sinh trưởng và cơ cấu thành phần loài.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  1. Xác định hiện trạng và quy mô các loại hình cây xanh cảnh quan tại tuyến đường Lý Thánh Tông.
  2. Điều tra, đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng của các loài cây xanh tầng cao, tầng cây bụi và tầng cây thảm.
  3. Đánh giá tính đa dạng loài của hệ thống cây xanh cảnh quan trên tuyến đường.
  4. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm phát triển, duy trì hệ thống cây xanh trên tuyến đường.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Đánh giá hiện trạng và quy mô các loại hình cây xanh cảnh quan tại địa điểm nghiên cứu.
  2. Xác định thành phần loài, số lượng và tỷ lệ sống của các loài cây xanh.
  3. Đo đạc các chỉ tiêu sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của các loài cây xanh.
  4. Khảo sát hiện trạng sâu bệnh hại xuất hiện trên hệ thống cây xanh.
  5. Đánh giá đa dạng loài tầng cây cao (nguồn gốc bản địa/du nhập, đặc tính rụng lá/thường xanh).
  6. Đánh giá đa dạng loài tầng cây bụi và cây trồng thảm.
  7. Đánh giá đa dạng loài cây leo và ngoại tầng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các loài cây xanh cảnh quan (cây bóng mát tầng cao, cây ăn quả, cây bụi, cây trồng thảm nền) được trồng trên tuyến đường.
  • Không gian nghiên cứu: Tuyến đường Lý Thánh Tông, huyện Gia Lâm, Hà Nội (đoạn từ nút giao Quốc lộ 5 đến đê Long Biên - Xuân Quan, chạy qua thị trấn Trâu Quỳ, xã Đa Tốn và xã Đông Dư).
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 24/01/2022 đến ngày 24/07/2022 (thời điểm đo đếm số liệu thực địa đợt 1 tiến hành vào tháng 2/2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên khung lý thuyết sinh thái cảnh quan và lâm nghiệp đô thị, kết hợp hệ thống văn bản quy chuẩn kỹ thuật của Nhà nước:

  • Khung lý luận về sinh thái cảnh quan đô thị: Tiếp thu các quan điểm phân loại hệ sinh thái và vai trò của cây xanh trong giảm thiểu ô nhiễm đất (Pb, Fe, Zn), lọc bức xạ mặt trời, ngăn bốc hơi nước và kiểm soát hướng gió (Nguyễn Văn Huy, 2011; Lê Ngân, 2015). Khung phân loại cây xanh đô thị theo chức năng quy hoạch (Trần Văn Nhã, 2014) và đặc điểm lập địa biến đổi trong đô thị (Lê Đồng Tấn, 2003).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật:
    • Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9257:2012: Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị (cây xanh công viên, vườn hoa, đường phố).
    • Thông tư số 20/2005/TT-BXD của Bộ Xây dựng: Hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị, quy định tiêu chuẩn cây bóng mát đưa ra trồng (chiều cao tối thiểu 3,0 m, đường kính cổ rễ/thân tiêu chuẩn tối thiểu 6 cm, thân thẳng, tán cân đối) và phân loại cây bóng mát (tiểu mộc cao dưới 10 m, trung mộc từ 10 - 15 m, đại mộc trên 15 m).
    • Nghị định số 64/2010/NĐ-CP của Chính phủ: Quản lý cây xanh đô thị, quy định an toàn hành lang lưới điện, an toàn tầm nhìn giao thông và yêu cầu đánh số cây lập hồ sơ quản lý.
  • Tài liệu định danh thực vật học: Sử dụng hệ thống phân loại thực vật của Nguyễn Tiến Bân (2003–2005) và Phạm Hoàng Hộ (1992) để xác định tên khoa học, chi, họ thực vật.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp kế thừa: Thu thập bản đồ quy hoạch phân khu, hồ sơ thiết kế mặt cắt ngang tuyến đường và các công trình nghiên cứu cảnh quan liên quan.
  • Phương pháp điều tra thực địa và đo đếm lâm học:
    • Tiến hành kiểm kê toàn diện 100% cá thể cây xanh trên toàn tuyến đường.
    • Sử dụng thước dây, sào đo chuyên dụng để thu thập các chỉ tiêu hình thái: chu vi thân ở vị trí 1,2 m ($C_{1.2}$), quy đổi sang đường kính thân ($D_{1.2}$); chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$); chiều cao dưới cành ($H_{dc}$); bề dày tán ($H_{vn} - H_{dc}$); đường kính tán theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc ($D_{tán}$).
    • Đối với tầng cây bụi: Đếm số lượng khóm, số nhánh trung bình/khóm, chiều cao trung bình, đường kính gốc trung bình và đường kính tán.
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu: Nhập liệu, thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm theo các cấp chất lượng, cấp đường kính và tính toán trị số trung bình bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần I: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của công tác quy hoạch và đánh giá cây xanh cảnh quan đường phố trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh tại khu vực huyện Gia Lâm, Hà Nội. Nội dung phần này xác lập đầy đủ mục đích, 4 mục tiêu nghiên cứu và 7 yêu cầu kỹ thuật cần đạt được trong quá trình thực địa.

Phần II: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Phần tổng quan hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của khoa học sinh thái cảnh quan trên thế giới từ cuối thế kỷ XIX, các mốc thành lập Hiệp hội Quốc tế về Sinh thái học Cảnh quan (IALE - 1982), các công trình kinh điển của Forman & Godron (1986), Naveh & Lieberman (1984). Tại Việt Nam, tác giả điểm luận các giai đoạn nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên và cảnh quan từ 1954 đến nay gắn liền với công trình của Vũ Tự Lập (1976), Phạm Hoàng Hải (1992, 2000, 2006), Nguyễn Cao Huần (1996, 2000). Tác giả so sánh chỉ tiêu diện tích cây xanh bình quân của Hà Nội (khoảng 2 $m^2$/người) với các thành phố trên thế giới như Singapore (30,3 $m^2$/người), Seoul (41 $m^2$/người), Berlin (50 $m^2$/người), Paris (25 $m^2$/người). Đồng thời, phần này trích dẫn chi tiết các văn bản pháp quy điều chỉnh cây xanh đô thị tại Việt Nam (TCVN 9257:2012, Thông tư 20/2005/TT-BXD, Nghị định 64/2010/NĐ-CP).

Phần III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết hệ thống mẫu biểu điều tra (từ Mẫu bảng 01 đến Mẫu bảng 11 và Mẫu biểu thu thập số liệu lâm học), các công thức tính toán và thao tác đo đếm chỉ tiêu sinh trưởng cây bóng mát, cây bụi, thảm cỏ nền tại thực địa tuyến đường Lý Thánh Tông trong khung thời gian từ 24/01/2022 đến 24/07/2022.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu thực địa phản ánh cấu trúc không gian và tình trạng sinh trưởng của toàn bộ hệ thống thực vật trên tuyến đường:

  • Quy mô không gian tuyến đường: Chiều dài 4.200 m, lộ giới 40 m gồm 2 vỉa hè rộng 3,5 m/bên, lòng đường xe chạy 23 m và dải phân cách giữa rộng 4 m. Cây xanh phân bố thành 2 loại hình: cây xanh đường phố (chiều dài 2.840 m, chiếm 71,45% số lượng cây) và cây xanh nút giao cắt (chiều dài 1.135 m).
  • Bố trí cảnh quan theo lát cắt ngang:
    • Vỉa hè hai bên: Trồng đơn loài cây Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus) với cự ly thưa trên 7 m, nâng cao chiều cao dưới cành.
    • Dải phân cách giữa: Trồng so le phối hợp giữa tầng cây cao (Móng bò tím, Chiêu liêu) và cây bụi (Ngâu, Dâm bụt) theo quy luật 1 cây tầng cao - 1 cây bụi; tầng phủ nền sử dụng Cỏ lá tre và viền Chiều tím, bổ sung Chà là.
    • Đoạn cầu và nút giao cắt: Bố trí cây tầng thấp (Dâm bụt, Ngâu) tại đoạn cầu; khu vực nút giao kết hợp tầng cao (Chà là, Tường vi, Móng bò, Bàng Đài Loan), tầng thấp (Huỳnh liên, Dâm bụt), cây thảm hoa (Bạch trinh biển, Huỳnh anh, Ngọc bút) và nhóm cây bóng mát/ăn quả trồng ngẫu nhiên (Bằng lăng, Kèn bạc hoa vàng, Lim xẹt, Xoài) với khoảng cách 7 m.
  • Tổng hợp thành phần loài, số lượng và tỷ lệ sống: Tuyến đường ghi nhận tổng cộng 3.975 cá thể cây, gồm 10 loài cây bóng mát/ăn quả, 7 loài cây bụi và 1 loài cây thảm cỏ, phân bố trong 13 họ thực vật.
STT Tên thông thường Tên khoa học Họ thực vật Số lượng (cá thể/khóm) Tỷ lệ % trên tổng số Tỷ lệ sống/chết (cây) Trạng thái mùa lá
1 Giáng hương Pterocarpus macrocarpus Fabaceae (Họ Đậu) 862 37,38% 862/1 Rụng lá
2 Chiêu liêu Terminalia chebula Combretaceae (Họ Trâm bầu) 312 0,04% 312/19 Rụng lá
3 Móng bò tím Bauhinia purpurea Leguminosae (Họ Đậu) 453 19,64% 453/17 Rụng lá
4 Chà là Phoenix dactylifera Arecaceae (Họ Cau) 216 9,67% 216/3 Thường xanh
5 Tường vi Lagerstroemia indica Lythraceae (Họ Bằng lăng) 265 11,49% 265/28 Rụng lá
6 Bằng lăng Lagerstroemia speciosa Lythraceae (Họ Bằng lăng) 26 1,13% 26/0 Thường xanh
7 Bàng Đài Loan Terminalia mantaly Combretaceae (Họ Bàng) 85 3,69% 85/8 Thường xanh
8 Lim xẹt Peltophorum pterocarpum Fabaceae (Họ Đậu) 20 0,87% 20/1 Thường xanh
9 Xoài Mangifera indica Anacardiaceae (Họ Đào lộn hột) 46 1,20% 46/5 Thường xanh
10 Kèn bạc hoa vàng Tabebuia aurea Bignoniaceae (Họ Núc nác) 21 0,91% 21/2 Thường xanh
11 Ngâu Aglaia duperreana Meliaceae (Họ Xoan) 641 27,80% 641/60 Thường xanh
12 Dâm bụt Hibiscus rosa-sinensis Malvaceae (Họ Bông) 889 38,55% 889/143 Thường xanh
13 Huỳnh liên Tecoma stans Bignoniaceae (Họ Chùm ớt) 139 6,03% 139/9 Thường xanh
  • Phân bố theo cấp đường kính thân ($D_{1.2}$):
    • Cấp $D_{1.2} < 10\text{ cm}$: Có 916 cây, chiếm ưu thế bởi Tường vi (265 cây), Móng bò tím (243 cây) và Dâm bụt (204 cây).
    • Cấp $D_{1.2} = 10 - 30\text{ cm}$: Có 2.106 cây, chiếm tỷ lệ lớn nhất (53,11% tổng số cây toàn tuyến), dẫn đầu là Giáng hương (861 cây), Dâm bụt (401 cây), Chiêu liêu (250 cây) và Móng bò tím (210 cây).
    • Cấp $D_{1.2} = 30 - 50\text{ cm}$: Có 819 cây, chủ yếu là khóm Ngâu (420 cây) và Dâm bụt (274 cây).
    • Cấp $D_{1.2} \ge 50\text{ cm}$: Có 124 cây, tập trung ở các bụi Ngâu lớn (114 cây) và Dâm bụt (10 cây).
  • Hiện trạng sinh trưởng tầng cây bụi:
    • Ngâu (Aglaia duperreana): Tổng số 12.953 nhánh cây phân bổ trong 641 khóm (bình quân 20,21 cây/khóm), đường kính gốc trung bình 40,03 cm, $H_{vn} = 1,17\text{ m}$, $D_{tán} = 1,05\text{ m}$.
    • Dâm bụt (Hibiscus rosa-sinensis): Tổng số 6.056 nhánh trong 889 khóm (bình quân 6,3 cây/khóm), đường kính gốc trung bình 19,20 cm, $H_{vn} = 1,38\text{ m}$, $D_{tán} = 1,29\text{ m}$.
    • Huỳnh liên (Tecoma stans): Tổng số 686 nhánh trong 139 khóm (bình quân 4,94 cây/khóm), đường kính gốc trung bình 21,59 cm, $H_{vn} = 2,41\text{ m}$, $D_{tán} = 1,80\text{ m}$.
  • Chỉ tiêu sinh trưởng sinh dưỡng tầng cây cao:
Tên loài cây Tên khoa học $D_{1.2}$ trung bình (cm) $H_{vn}$ trung bình (m) $H_{dc}$ trung bình (m) Chiều dày tán (m) $D_{tán}$ trung bình (m)
Giáng hương Pterocarpus macrocarpus 17,79 8,25 2,75 5,50 3,67
Chiêu liêu Terminalia chebula 10,65 6,51 4,25 2,26 3,94
Móng bò tím Bauhinia purpurea 9,66 5,07 2,44 2,63 2,98
Chà là Phoenix dactylifera 21,16 2,95 2,57 1,38 1,87
Tường vi Lagerstroemia indica 3,49 1,94 0,51 1,43 1,49
Bằng lăng Lagerstroemia speciosa 9,36 5,98 3,48 2,50 1,34
Bàng Đài Loan Terminalia mantaly 12,63 5,34 3,14 2,20 1,57
Lim xẹt Peltophorum pterocarpum 25,78 5,50 3,81 1,69 2,32
Xoài Mangifera indica 20,02 6,44 1,99 4,45 1,42
Kèn bạc hoa vàng Tabebuia aurea 10,24 3,54 1,67 1,87 1,74

Phần V: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết lại các chỉ số đa dạng loài và hiện trạng sinh trưởng của tuyến đường, đồng thời đưa ra các đề xuất về mặt kỹ thuật chăm sóc (tưới nước bồn xe, cắt tỉa cành nhánh che khuất tầm nhìn, trồng dặm bổ sung các cây chết).

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả chính của nghiên cứu:

  1. Đánh giá định lượng cơ cấu loài: Xác định được hệ thống cây xanh trên tuyến đường Lý Thánh Tông gồm 10 loài cây bóng mát/gỗ lớn, 7 loài cây bụi và 1 loài cây thảm nền thuộc 13 họ thực vật. Trong nhóm cây bóng mát, có 4 loài rụng lá (Giáng hương, Chiêu liêu, Móng bò tím, Tường vi), chiếm 40% tổng số loài và 66,55% tổng số lượng cá thể cây bóng mát toàn tuyến.
  2. Xác định cấu trúc kích cỡ và tốc độ sinh trưởng: Đa số cây tầng cao đang trong giai đoạn phát triển tạo tán, tập trung ở cấp đường kính $D_{1.2}$ từ 10 - 30 cm (2.106 cây, chiếm 53,11%). Cây Lim xẹt có đường kính thân lớn nhất ($25,78\text{ cm}$); Giáng hương đạt chiều cao vút ngọn lớn nhất ($8,25\text{ m}$) và Chiêu liêu có đường kính tán rộng nhất ($3,94\text{ m}$).
  3. Đánh giá tỷ lệ sống và tình hình sâu bệnh: Tỷ lệ sống toàn tuyến đạt mức cao nhưng ghi nhận 296 cây bị chết (trong đó Dâm bụt chiếm tỷ lệ lớn nhất với 143 khóm bị chết). Mức độ gây hại của sâu bệnh (sâu đục thân, sâu ăn lá, mục gỗ) ở mức độ nhẹ, ít gây hại.

Giải pháp và kiến nghị quản lý tác giả đề xuất:

  • Kỹ thuật tỉa cành và an toàn giao thông: Cần thường xuyên cắt tỉa tán đối với loài Móng bò tím ở dải phân cách giữa do loài này có bề dày tán lớn ($2,63\text{ m}$), dễ gây khuất tầm nhìn của các phương tiện lưu thông và hạn chế ánh sáng xuống tầng thảm cỏ bên dưới. Ngược lại, loài Chiêu liêu có cành phân nhánh cao ($H_{dc} = 4,25\text{ m}$), tán mỏng, rất thích hợp duy trì tại dải phân cách giữa.
  • Kỹ thuật trồng dặm: Khẩn trương thay thế 296 cây bị chết (đặc biệt là các vị trí khóm Dâm bụt bị chết/hỏng) bằng các cây giống cùng kích cỡ để bảo đảm tính liên tục của mảng xanh đô thị.
  • Duy trì chế độ tưới và chăm sóc: Kết hợp nguồn nước mưa tự nhiên và điều động xe bồn phun tưới định kỳ; kiểm soát việc cắt tỉa các cành có độ cao dưới 7 m hoặc có nguy cơ gãy mục ảnh hưởng hành lang an toàn điện và công trình ven đường.

Đóng góp của đề tài: Công trình cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực địa định lượng đầu tiên về hiện trạng sinh trưởng, phân bố không gian và cơ cấu loài thực vật cảnh quan tại tuyến đường mới thành lập Lý Thánh Tông, đóng góp tư liệu tham khảo cho công tác quy hoạch cây xanh đô thị huyện Gia Lâm trong tiến trình phát triển cơ sở hạ tầng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Dữ liệu đo đếm hình thái sinh trưởng lâm học mới được thực hiện trong 01 đợt điều tra thực địa chính (tháng 2/2022) trong khung thời gian 6 tháng nghiên cứu (từ 24/01/2022 đến 24/07/2022), chưa phản ánh được chu kỳ biến động sinh trưởng liên năm.
  • Nghiên cứu giới hạn không gian trên phạm vi một tuyến đường trục chính (Lý Thánh Tông), chưa mở rộng so sánh đối chứng với các tuyến đường lân cận hoặc các khu chức năng công viên trong cùng khu vực huyện Gia Lâm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi, đo đếm định kỳ các chỉ tiêu sinh trưởng sinh dưỡng và sinh thực qua nhiều năm nhằm xác lập đường cong sinh trưởng của các loài cây bóng mát mới trồng.
  • Mở rộng đánh giá các chỉ tiêu sinh lý thực vật (khả năng hấp thụ bụi mịn, tích tụ kim loại nặng trên phiến lá, khả năng chống chịu gió bão) của từng loài cây bóng mát trên các trục đường đô thị cửa ngõ Hà Nội.

Giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Cảnh quan và Kỹ thuật hoa viên, Lâm nghiệp đô thị, Quản lý đô thị: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra cây xanh đường phố, cách thức xây dựng phiếu điều tra lâm học đô thị, kỹ thuật đo đếm các chỉ tiêu $D_{1.2}$, $H_{vn}$, $H_{dc}$, bề dày và đường kính tán.
  • Các đơn vị quản lý công viên cây xanh và tư vấn thiết kế cảnh quan đô thị: Cung cấp dữ liệu thực chứng về ưu - nhược điểm của các loài cây trồng dải phân cách giữa (như Móng bò tím, Chiêu liêu, Ngâu, Dâm bụt) và vỉa hè (Giáng hương) để ứng dụng vào công tác thiết kế mặt cắt cảnh quan đường giao thông.

Câu hỏi thường gặp

Tuyến đường Lý Thánh Tông có quy mô mặt cắt ngang và chiều dài thiết kế như thế nào?

Tuyến đường Lý Thánh Tông có chiều dài 4,2 km (4.200 m), lộ giới rộng 40 m. Mặt cắt ngang gồm 2 vỉa hè rộng 3,5 m mỗi bên, lòng đường xe chạy rộng 23 m và dải phân cách giữa rộng 4 m.

Hệ thống cây xanh trên tuyến đường gồm bao nhiêu loài và số lượng cá thể là bao nhiêu?

Hệ thống cây xanh trên tuyến đường gồm 3.975 cá thể (khóm), đại diện cho 10 loài cây bóng mát/ăn quả, 7 loài cây bụi và 1 loài cây trồng thảm nền thuộc 13 họ thực vật. Trong đó, Dâm bụt là loài có số khóm lớn nhất (889 khóm), tiếp theo là Giáng hương (862 cây) và Ngâu (641 khóm).

Tỷ lệ cây rụng lá ở tầng cây bóng mát trên tuyến đường là bao nhiêu và gồm những loài nào?

Trong số 10 loài cây bóng mát, có 4 loài rụng lá gồm Giáng hương, Chiêu liêu, Móng bò tím và Tường vi (chiếm 40% tổng số loài bóng mát), tương ứng với 66,55% tổng số cá thể cây bóng mát trên toàn tuyến đường.

Vì sao tác giả khuyến nghị cần chú ý cắt tỉa cây Móng bò tím tại dải phân cách giữa?

Cây Móng bò tím có bề dày tán trung bình tương đối lớn ($2,63\text{ m}$) và là cây rụng lá một phần. Khi bố trí ở dải phân cách giữa, tán cây phát triển rậm rạp có thể che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông và che khuất ánh sáng, làm suy giảm sinh trưởng của tầng cây bụi và thảm cỏ phía dưới.

Loài cây tầng cao nào có đường kính thân và chiều cao vút ngọn lớn nhất tại thời điểm điều tra?

Loài có đường kính thân trung bình ($D_{1.2}$) lớn nhất là Lim xẹt ($25,78\text{ cm}$), tiếp theo là Chà là ($21,16\text{ cm}$) và Xoài ($20,02\text{ cm}$). Loài có chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) trung bình lớn nhất là Giáng hương ($8,25\text{ m}$), tiếp theo là Chiêu liêu ($6,51\text{ m}$) và Xoài ($6,44\text{ m}$).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lù Thị Mai đã phản ánh trung thực, định lượng và chi tiết hiện trạng thành phần loài cùng các chỉ tiêu sinh trưởng của hệ thống cây xanh cảnh quan trên tuyến đường Lý Thánh Tông (Gia Lâm, Hà Nội). Nghiên cứu chỉ ra cơ cấu thực vật gồm 10 loài cây bóng mát và 7 loài cây bụi thuộc 13 họ, trong đó đa số cá thể đang ở giai đoạn kiến thiết tán với đường kính thân phổ biến từ 10 - 30 cm. Các số liệu thực nghiệm và kiến nghị kỹ thuật về tỉa cành Móng bò tím, trồng dặm Dâm bụt và khai thác ưu thế cây Chiêu liêu là căn cứ chuyên môn có giá trị cho công tác duy tu, quản lý cảnh quan giao thông đô thị.