mở đầu cho việc thành lập các diễn đàn trao đổi của các nhà khoa học về cảnh quan. - Năm 1981: Các bài viết về sinh thái cảnh quan Bắc Mỹ của Forman và Gordon lần đầu xuất hiện trên tạp chí Bioscience. - Năm 1982: Hiệp hội quốc tế về sinh thái học cảnh quan (IALE) được thành lập tại hội thảo quốc tế lần thứ 6 về nghiên cứu sinh thái ở Piestany, Tiệp Khắc cũ. - Năm 1983: Cuộc hội thảo về sinh thái cảnh quan mang tên Allerton Park được tổ chức bởi diễn ra tại Illinois, Mỹ với 25 người tham gia.
- Năm 1984: Ẩn phẩm đầu tiên về sinh thái cảnh quan học được xuất bản 9 Landscape Ecology: Theory and Application của hai tác giả Naveh và Lieberman. - Cũng trong năm 1984: Phiên họp đầu tiên về sinh thái học cảnh quan được diễn ra tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội sinh thái học Hoa Kỳ. - Năm 1986: Hội nghị sinh thái học cảnh quan Bắc Mỹ được diễn ra rại trường đại học Georgia với 100 thành viên tham gia, do hai nhà khoa học Monica Turner và Frank Golley chủ trì. - 1986: Cuốn Landscape Ecology (Forman và Godron) được xuất bản, đây là một trong những công trình nền tảng của lý thuyết nghiên cứu Sinh thái cảnh quan học đầu tiên trên thế giới.
Hầu hết các nghiên cứu sau đó đều vận dụng mô hình này để phát triển. - 1986: Hiệp hội quốc tế về sinh thái học cảnh quan Hoa Kỳ được thành lập. - 1987: Tạp chí Landscape Ecology được xuất bản, do Frank Golley làm tổng biên tập. Từ những năm 1990 trở lại đây: Nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng của sinh thái cảnh quan tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo xu hướng ứng dụng cảnh quan và BVMT dựa trên công nghệ nghiên cứu tiên tiến và hiện đại như Viễn thám, GIS, các mô hình không gian để thành lập bản đồ cảnh quan, bản đồ đánh giá cảnh quan.
Cảnh quan trên thế giới được hình thành, phát triển ở Nga và Đông Âu vào cuối thế kỷ XIX gắn liền với việc nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên. Sau đó nghiên cứu cảnh quan được xuất hiện ở các nước như Đức, Ba Lan,… và phát tiển mạnh mẽ sau chiến tranh thế giới thứ hai cùng với nhiều khái niệm mới trong nghiên cứu cảnh quan ra đời. Bên cạnh đó xu hướng nghiên cứu các quần xã sinh thái phổ biến ở các nước Tây Âu, xu hướng sinh thái hóa đã xâm nhập vào cảnh quanvà xuất hiện 2 trường phái nghiên cứu về Sinh thái cảnh quan ở Tây Âu và Bắc Mỹ (Hàn Tất Ngạn, 2000). 10 Từ những năm 1980 trở lại đây, khoa học cảnh quan và sinh trường cảnh quan đã phát triển một cách nhanh chóng về cả phương pháp nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ.
Cảnh quan ngày càng đi sâu nghiên cứu đa dạng cấu trúc, động lực chức năng, vận dụng quan điểm ứng dụng và nghiên cứu cảnh quan theo hướng sinh thái góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế xã hội (Hàn Tất Ngạn, 2000). Các quốc gia trong khu vực xu hướng lựa chọn những cây thân gỗ thường ở trong rừng như: phong, Xà cừ, Bạch quả để trồng tại đô thị vì những lợi ích của chúng tới đời sống. Trên thế giới, việc nghiên cứu về cảnh quan cây xanh khu đô thị đang được quan tâm và thu hút được sự chụ ý của nhiều nước, nhà lâm nghiệp. Tại nhiều nước trên thế giới, chỉ tiêu diện tích cây xanh bình quân đầu người rất cao, ví dụ như thành phố của Nhật Bản đạt 7,5 m 2/người.Việc tăng lượng cây xanh nhiều hơn, các công trình kiến trúc xanh rộng khắp đã thực hiện có hiệu quả tại nhiều nước như Canada, Mỹ, Pháp, Singapore,… Đây là một giải pháp mang đến nhiều lợi ích kép.
Bởi vì nhiều cây xanh giúp giảm bớt ô nhiễm môi trường, cải thiện vi khí hậu, tạo cảnh quan cho con người thư giãn, bớt căng thẳng. Vì vậy, việc nghiên cứu cảnh quan cây xanh đang được các nước quan tâm (Hàn Tất Ngạn, 2000).3 Tình hình nghiên cứu cây xanh ở Việt Nam Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu cảnh quan chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận khoa học Cảnh quan của các nhà địa lý Xô Viết, tùy vào từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà khoa học địa lý nói chung và nghiên cứu cảnh quan nói riêng có sự vận dụng để đáp ứng với nhu cầu thực tễn. Từ sau năm 1980 đến nay, có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu CQ về cả những vấn đề lý luận và vận dụng vào thực tiễn các vùng, miền lãnh thổ đất nước. Bên cạnh đó, việc NCCQ phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên 11 và bảo vệ môi trường nhăm phát triển KT-XH một cách bền vững ngày càng được các nhà khoa học quan tâm.
Trong những năm gần đây xu hướng NCCQ đi vào cụ thể cho các vùng, miền, tình ở nước ta ngày càng phổ biến. Ở VIệt Nam, khái niệm đô thị xanh còn khá mới, nhiều nguời vẫn hiểu đô thị xanh là đô thị có nhiều công viên, cây xanh, mặt nước, khá hơn thì có thêm việc sử dụng năng lượng pin mặt trời cho các tòa nhà và trồng cây xanh trên mái. Trong phân vùng sinh thái nông-lâm nghiệp, từ Bắc vào Nam, Việt Nam có tới 8 vùng sinh thái. Các vùng sinh thái này đều có liên hệ mật thiết với tài nguyên và điều kiện tự nhiên các tỉnh và thành phố trên cả nước.
Mỗi vùng sinh thái có điều kiện tự nhiên và thảm thực vật đặc trưng với các loài cây đặc trưng. Do đó, việc quy hoạch chọn loài cây trồng từ mỗi vùng sinh thái phù hợp với đặc điểm tự nhiên, lịch sử, văn hóa, cảnh quan và tính chất của đô thị. Đây là điều mà các đô thị ở nước ta lâu nay vẫn chưa làm được. Có không ít đô thị, cây trồng sau vài năm rồi phải di rời, chặt đi hàng loạt thay bằng loài phù hợp hơn.
Trong giai đoạn đầu tiên (từ 1954 đến 1980), các công trình chủ yếu phát hiện sự phân hóa lãnh thổ theo hướng phân vùng địa lý tự nhiên: Trước tiên là công trình phân chia Địa lý tự nhiên Việt Nam của T.Sêglova (1957) đã sử dụng hệ thống phân vị đơn giản có 2 cấp vùng và á vùng.Fridland đã tiến hành phân vùng địa lý tự nhiên với hệ thống phân chia gồm 5 cấp, theo dấu hiệu của quy luật phi địa đới. Các công trình của các tác giả trong nước giai đoạn này trước hết phải kể đến “Địa lý tự nhiên Việt Nam” của Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập năm 1963. Các tác giả đã đưa ra hệ thống phân vị Địa lý tự nhiên Việt Nam gồm 6 cấp dựa trên cả 2 quy luật phân hoá địa đới và phi địa đới nhưng chưa có chỉ tiêu cho từng cấp phân vị vì thế nên không thể áp dụng rộng rãi. Năm 1970, Uỷ ban khoa học-kinh tế Nhà nước đã nghiên cứu và tiến hành Phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Việt Nam với hệ thống gồm 7 cấp phân vị, ngắn gọn và tương đối hoàn chỉnh, có chỉ tiêu cho từng cấp phân vị.
12 Đây là công trình có ý nghĩa lớn trong công tác điều tra và sử dụng lãnh thổ. Cũng trong giai đoạn này đáng chú ý là công trình “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” năm 1976 của Vũ Tự Lập đã tìm ra những đặc điểm, quy luật phân hoá của địa lý tự nhiên Việt Nam; công trình có giá trị về mặt lý luận, trong đó tác giả cũng đưa ra một hệ thống phân vị mà mỗi cấp có một chỉ tiêu riêng xác định, đưa ra khái niệm Cảnh địa lý và vận dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu cảnh quan lãnh thổ Việt Nam, phản ánh được sự thống nhất biện chứng trong các quy luật phân hoá địa đới và phi địa đới trong tự nhiên lãnh thổ Việt Nam (Vũ Tự Lập, 1976). Cho đến tận những năm 1970, các nghiên cứu cảnh quan mới được mở rộng theo hướng sinh thái hóa cảnh quan học, nghiên cứu địa sinh thái (nền tảng của hướng nghiên cứu sinh thái học các cảnh quan tự nhiên), hay nghiên cứu các cảnh quan tự nhiên bị biến đổi bởi hoạt động kinh tế của con người theo các mức độ khác nhau - còn gọi là cảnh quan nhân sinh (nền tảng của hướng nghiên cứu sinh thái học các cảnh quan văn hóa) (Vũ Tự Lập, 1976). Theo các định hướng của cảnh quan học Xô Viết, các định nghĩa về sinh thái cảnh quan tập trung làm rõ luận điểm sinh thái cảnh quan là một chuyên ngành mới của cảnh quan học.
Nhà địa lý học Xô Viết Deconov (1990) định nghĩa: “sinh thái cảnh quan là một hướng mới trong nghiên cứu cảnh quan học, xem xét môi trường hình thành của cảnh quan hiện đại, trong đó bao gồm cả cảnh quan nhân sinh và cảnh quan tự nhiên. Ở đây con người 21 được bao hàm như một bộ phận hợp thành của cảnh quan dưới dạng các sản phẩm của hoạt động kinh tế và là yếu tố ngoại cảnh hình thành cảnh quan”. Tất cả các định nghĩa quan trọng nhất về sinh thái cảnh quan ở Việt Nam đều được đưa ra bởi các nhà địa lý học. Theo quan điểm của nhiều nhà địa lý Việt Nam, sinh thái cảnh quan là một hướng nghiên cứu cảnh quan học ứng dụng, chú trọng các đặc trưng sinh thái của các cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam (Vũ Tự Lập, 1976).
13 Trong Hội thảo quốc gia lần thứ nhất về sinh thái cảnh quan tại Việt Nam, Phạm Hoàng Hải (1992) đã đưa ra định nghĩa như sau: sinh thái cảnh quan là một hướng nghiên cứu cảnh quan ứng dụng, trong đó đã có sự chú trọng đặc biệt đến khía cạnh các đặc trưng sinh thái của các địa tổng thể. Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị sinh thái cảnh quan cụ thể, có nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu riêng và đặc biệt có quy luật phân hóa các đối tượng đó theo không gian lãnh thổ. Có thể nói trong giai đoạn này cơ sở lý luận về khoa học cảnh quan đã được các nhà địa lý Việt Nam tiếp thu có hệ thống, vận dụng một cách linh hoạt phù hợp điều kiện cụ thể của thiên nhiên Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu bước đầu đã đáp ứng phần nào đối với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước lúc bấy giờ và đặt nền móng cho nghiên cứu cảnh quan ở nước ta sau này.