Khóa Luận Tốt Nghiệp: Đánh Giá Sinh Trưởng Của Sa Nhân Tím Dưới Tán Rừng Tự Nhiên Tại Điện Biên

Luận văn tốt nghiệp kỹ thuật nghiên cứu tốt nghiệp đánh giá sinh trưởng của loài sa nhân tím trồng dưới tán một số trạng thái rừng tự nhiên, điều tra thực trạng, phân tích số

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018

67
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Sinh Trưởng Sa Nhân Tím Tại Điện Biên

Đánh giá sinh trưởng của loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.Wu) là một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực lâm nghiệp tại tỉnh Điện Biên. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về khả năng sinh trưởng của loài cây này mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng. Sa nhân tím được biết đến với giá trị kinh tế cao và ứng dụng trong y học cổ truyền, do đó việc nghiên cứu sinh trưởng của nó dưới tán rừng tự nhiên là rất cần thiết.

1.1. Đặc Điểm Sinh Học Của Sa Nhân Tím

Loài Sa nhân tím là cây ưa ẩm, có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Cây thường mọc thành đám ở ven rừng, dọc các khe suối, và có thể phát triển ở độ cao từ 450 đến 700m. Đặc điểm này giúp cây thích nghi với nhiều loại đất và điều kiện sinh thái khác nhau.

1.2. Giá Trị Kinh Tế Của Sa Nhân Tím

Giá trị kinh tế của Sa nhân tím rất cao, với giá bán trên thị trường dao động từ 120.000 đồng/kg khô. Ngoài việc sử dụng trong y học cổ truyền, Sa nhân tím còn được dùng làm gia vị và chiết xuất tinh dầu, tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Đánh Giá Sinh Trưởng Sa Nhân Tím

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc đánh giá sinh trưởng của Sa nhân tím tại Điện Biên cũng gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như biến đổi khí hậu, khai thác rừng trái phép và sự cạnh tranh với các loài cây khác có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của loài cây này. Việc nhận diện và giải quyết những thách thức này là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của Sa nhân tím.

2.1. Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu

Biến đổi khí hậu đang gây ra những thay đổi lớn trong điều kiện sinh thái, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của Sa nhân tím. Nhiệt độ tăng cao và lượng mưa không ổn định có thể làm giảm năng suất và chất lượng của cây.

2.2. Khai Thác Rừng Trái Phép

Khai thác rừng trái phép là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của Sa nhân tím. Việc bảo vệ rừng và ngăn chặn khai thác trái phép là cần thiết để duy trì sự phát triển của loài cây này.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đánh Giá Sinh Trưởng Sa Nhân Tím

Để đánh giá sinh trưởng của Sa nhân tím, nghiên cứu sử dụng các phương pháp khoa học hiện đại, bao gồm khảo sát thực địa, thu thập dữ liệu về điều kiện sinh thái và phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng. Các phương pháp này giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của cây dưới tán rừng tự nhiên.

3.1. Khảo Sát Thực Địa

Khảo sát thực địa là bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu, giúp thu thập thông tin về điều kiện môi trường và tình trạng sinh trưởng của Sa nhân tím. Việc này bao gồm đo đạc chiều cao, đường kính và mật độ cây.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu

Sau khi thu thập dữ liệu, các nhà nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích để đánh giá sự sinh trưởng của Sa nhân tím. Phân tích này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và đưa ra các khuyến nghị cho việc trồng và chăm sóc.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Sinh Trưởng Sa Nhân Tím

Kết quả nghiên cứu cho thấy Sa nhân tím có khả năng sinh trưởng tốt dưới tán rừng tự nhiên tại Điện Biên. Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao, đường kính và năng suất quả đều đạt yêu cầu, cho thấy tiềm năng phát triển của loài cây này trong tương lai. Những kết quả này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc phát triển lâm nghiệp tại địa phương.

4.1. Đánh Giá Chiều Cao Và Đường Kính Của Cây

Kết quả cho thấy chiều cao trung bình của Sa nhân tím đạt từ 1,5 đến 2,5m, trong khi đường kính gốc đạt từ 5 đến 10cm. Những chỉ tiêu này cho thấy cây có khả năng phát triển mạnh mẽ trong điều kiện tự nhiên.

4.2. Năng Suất Quả Của Sa Nhân Tím

Năng suất quả của Sa nhân tím đạt từ 80 đến 120kg/ha/năm, cho thấy tiềm năng kinh tế cao của loài cây này. Việc phát triển Sa nhân tím không chỉ giúp tăng thu nhập cho người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Đánh Giá Sinh Trưởng Sa Nhân Tím

Nghiên cứu về sinh trưởng của Sa nhân tím tại Điện Biên đã chỉ ra rằng loài cây này có tiềm năng phát triển lớn dưới tán rừng tự nhiên. Việc bảo tồn và phát triển Sa nhân tím không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào việc bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường. Tương lai của Sa nhân tím phụ thuộc vào các chính sách bảo vệ rừng và sự quan tâm của cộng đồng trong việc phát triển lâm nghiệp bền vững.

5.1. Chính Sách Bảo Vệ Rừng

Cần có các chính sách bảo vệ rừng hiệu quả để đảm bảo sự phát triển bền vững của Sa nhân tím. Việc này bao gồm việc ngăn chặn khai thác trái phép và khôi phục các khu rừng đã bị tàn phá.

5.2. Tăng Cường Giáo Dục Cộng Đồng

Giáo dục cộng đồng về giá trị của Sa nhân tím và tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng là rất cần thiết. Sự tham gia của cộng đồng sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc bảo tồn và phát triển loài cây này.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Chung Chải là xã n m ở phía bắc của huyện Mƣờng Nh tỉnh Điện Biên, Việt Nam. Từ sau khi đƣợc thành lập xã Chung Chải bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển trên mọi l nh vực. o địa hình chia cắt sâu nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu, cho ph p phát triển một nền sản xuất nông – lâm nghiệp phong phú. Tài nguyên rừng ở xã Chung Chải vào những năm trƣớc rất phong phú, và đa dạng về sinh học và thành phần loài, thế nhƣng hiện nay rừng bị tán phá rất nhiều, nguyên nhân chủ yếu là do khai thác trái ph p, và tập quán canh tác du canh du cƣ của đồng bào dân tộc.

Đứng trƣớc hiện trạng đó phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Mƣờng Nh và tỉnh Điện iên đã có các chính sách phát triển ngành lâm nghiệp của xã cũng nhƣ toàn huyện, với tiêu chí rừng gắn với ngƣời dân, vừa giảm áp lực về khai thác rừng, vừa phải tăng thu nhập cho ngƣời dân, vì vậy việc phát triển và trồng các loài lâm sản ngoài gỗ là biện pháp tối ƣu nhất đối với xã Chung Chải.Wu , thuộc chi Sa nhân Amomum Roxb , họ Gừng Zingiberaceae, là một loài lâm sản ngoài gỗ, cũng là một trong các loài thuốc quý, có giá trị kinh tế cao đƣợc ngƣời dân biết đến và sử dụng từ lâu đời. Vỏ quả Sa nhân là dƣợc liệu đƣợc sử dụng trong các bài thuốc y học cổ truyền ở trong nƣớc và nƣớc ngoài nhƣ Trung Quốc, Nhật ản, Triều Tiên…, ngoài ra hạt của quả Sa nhân còn làm gia vị bởi vị cay của chúng, và để chế biến mùi rƣợu, ngoài ra thân, lá Sa nhân còn chứa tinh dầu đƣợc chiết suất để lấy tinh dầu. Cùng với nhu cầu sử dụng Sa nhân ngày càng tăng, Sa nhân là loài cây d trồng, có biên độ sinh thái rộng, thích nghi với nhiều đạng lập địa, thu hoạch đơn giản, thích hợp với ngƣời dân, mà có giá trị kinh tế cao, và Sa nhân cũng mọc tự nhiên tại xã Chung Chải. Vì vậy rất thích hợp trồng tại xã Chung Chải nh m tăng thu nhập cho ngƣời dân, và giảm áp lực khai thác gỗ, phát triển ngành Lâm nghiệp.

1 Trƣớc thực tế đó, tôi chọn đề tài “Đánh giá sinh trưởng của loài Sa nhân tím (Amomun longiligulare T.Wu) trồng dưới tán một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã Chung Chải - huyện Mường Nhé - tỉnh Điện Biên” là cần thiết nh m gây trồng cây Sa nhân tăng thu nhập cho ngƣời dân và phát triển ngành Lâm nghiệp của xã Chung Chải một cách bền vững. 2 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới. Giá trị và công dụng.

Sa nhân là cây thuốc quý đƣợc sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaysia, Thái lan, Lào và Việt Nam. Bên cạnh giá trị sử dụng làm thuốc, Sa nhân còn đƣợc dùng làm gia vị hoặc chiết suất lấy tinh dầu dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm. ƣợc liệu Sa nhân của Việt Nam [2], [6] đƣợc khai thác chủ yếu từ cây mọc tự nhiên ở rừng. Trên thị trƣờng hiện nay giá Sa nhân quả loại 1 dao động từ 120.000 đồng/kg khô.

Sa nhân hạt (quả khô bóc vỏ còn nguyên khối hạt) xuất khẩu có thể đạt 8.083 đô la Mỹ/tấn, tƣơng đƣơng 170 triệu đồng Việt Nam trên tấn. Nhƣ vậy, có thể khẳng định r ng Sa nhân cũng là loại lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị kinh tế cao. Xuất phát từ giá trị kinh tế mang lại cùng nhiều lý do khác, Sa nhân đƣợc nghiên cứu đƣa vào trồng thêm ở một vài nƣớc trong khu vực cũng nhƣ Việt Nam. Những loài Sa nhân đã được vào gây trồng Trung Quốc là nƣớc sớm tiến hành nghiên cứu trồng cây Sa nhân.

Theo tài liệu của viện nghiên cứu Lâm Nghiệp nhiệt đới Trung Quốc, Zheng Haishui và He Kejun (1990) cho r ng Sa nhân đang đƣợc trồng ở phía Nam Trung Quốc hiện nay cho kết quả tốt nhất là Sa nhân Tím (Amomum longgiligulare)[30]. Trong một ấn phẩm về LSNG ở 15 quốc gia thuộc vùng nhiệt đới châu Á của EC – FAO Partnership programme, tháng 9 năm 2002 ở Lào có 3 loài Sa nhân mọc tự nhiên đã đƣợc ngƣời dân đƣa vào trồng ở cao nguyên Poloven; A.villosum trồng ở Champasac và Sa La Van [26]. 3 Theo Catherine Aubertin (2004) [25], trong một dự án về LSNG ở Phong Xa Ly (Lào), ngƣời ta trồng giống Sa nhân A. xanthioides nhập từ Trung Quốc.

Sau 2 năm thử nhiệm thì thấy cây mọc tốt, nhƣng chƣa có con số kết quả cuối cùng. Nhƣ vậy, hiện đã có 3 loài Sa nhân đƣợc đƣa vào gây trồng thêm ở các nƣớc Lào và Trung Quốc thì có loài Sa nhân tím (Amomum longiligilare) đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều nhất. Nơi trồng và điều kiện sinh thái. Tất cả các loài Sa nhân đƣợc trồng ở Lào và Trung Quốc trên đây đều có nguồn gốc từ cây mọc tự nhiên và đều trồng đƣợc ở vùng nhiệt đới.

Nơi trồng là vùng núi có độ cao từ 350m đến 1000m [1]. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trƣởng tốt, đối với loài A.villsum trồng ở Trung Quốc từ 22-28 0C  Mật độ trồng: Theo Catherine Aubertin (2004) [25], giống Sa nhân (A. xanthioides) trồng ở Phong Sa Ly Lào ƣớc tính có mật độ trên dƣới 1000 cây/ha.  Chăm sóc và sản lƣợng: Trong tài liệu về trồng Sa nhân ở nƣớc ngoài hiện có chỉ thấy có một tài liệu đề cập tƣơng đối toàn diện về các khâu chăm sóc, bón phân, phòng ngừ sâu bệnh đới với loài Sa nhân A.

villosum trồng ở Trung Quốc. Về chăm sóc, đáng chú trọng nhất là làm có 2-3 lần/năm, nhƣng trƣớc mùa đông cỏ dại đƣợc giữ lại phủ đất đề phòng có sƣơng, tuyết. Bên cạnh đó, bón phân đƣợc coi là biện pháp thâm canh quyết dịnh đến năng suất Sa nhân trồng, có thể tăng thêm từ 20-50%. Phân bón gồm: Phân chuồng mục, supe phốt phát và phâm đạm bón trƣớc vụ hoa.

4 Ngoài ra, các tác giả công trình này còn khuyến cáo về việc điều tiết độ tàn che luôn đảm bảo khoảng 50%. Loài Sa nhân A.villosum trồng ở Trung quốc chƣa phát hiện sâu bệnh hại trên diện rộng. Rải rác có sâu xám cắn cây con, động vật gặm nhấm quả già, cách phòng trừ b ng thuốc sâu. o đây lá công trình từ năm 1960 của thế kỷ trƣớc nên các loại thuốc trừ sâu đƣợc đề cập nay không còn đƣợc phép sử dụng nữa.

Trong khi đó, theo Zheng haishui & HE Kejun 1993 [30], loài Sa nhân tím A.longilugulare trồng xen với cây Cao su 3-4 năm bắt đầu cho hoa quả. Năng suất trung bình 80-12 kg quả khô/ha/năm. Theo 1 tài liệu khác về trồng Sa nhân A.xanthioides ở tỉnh U Đom Xay Lào cho thu hoạch 300-600 kg quả/ha/năm, ở đây không nói rõ quả khô hay quả tƣơi. Về phân loại thực vật  Tên gọi và vị trí phân loại Các tác giả Võ Văn Chi 1997 [6], Đỗ Tất Lợi (1992) [12], Lê Mộng Chân (2000) [4], Nguy n Tập 2007 [22], đều thống nhất chung tên gọi Sa nhân tím (hay còn gọi là Sa nhân) có tên khoa học Amomum longiligulare T.Wu, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng Zingiberaceae.

Ấn phẩm Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam 2007 [8], đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, thông tin khác về thực vật, phân bố, đặc điểm sinh học của Sa nhân tím cụ thể.  Hình thái: Cây thảo, sống lâu năm, cao 1,5 – 2,5 m hoặc hơn. Thân r có các lá mọc so le thành 2 dãy, hình mác, dài 20-30 cm, rộng 5-6cm, gốc hình nêm, đầu thuôn nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dƣới nhạt, cuống lá dài 5-10mm, bẹ lá to dài, có khía, lƣỡi bẹ mỏng, dài 1,5 – 3,0 cm, phần gốc ôm lấy thân. 5 Cụm hoa mọc từ thâm r thành bông ngắn.

Hoa 5-7, bao gồm lá bắc ngoài hình bầu dục, màu nâu, là bắc trong dạng ống, đài nhỏ dài 1,5 cm, có 3 răng nhọn, tràng hình ống dài 1,3-1,5 cm, màu trắng chia 3 thùy, mặt ngoài có lông thƣa, thùy giữa hình trứng ngƣợc, hai thùy bên hẹp, cánh, môi gần tròn, đƣờng kính 2,0-2,6 cm, mép màu vàng, có sọc đỏ ở giữa, đầu cánh môi xẻ hai thùy nhỏ gập ra phia sau, chỉ nhị dài hơn bao phấn, bầu trụ hình tròn, hơi phình ở giữa, có lông trắng. Quả hình cầu hoặc hơi hình trứng, đƣờng kính 1,3-2cm, dài 1,5-2,5 cm, mặt ngoài có gai ngắn, mếm màu tím, chia 3 ô, hạt đa dạng, có áo hạt nếm có vị ngọt, đƣờng kính 3-4 mm. Toàn thân và vỏ quả vò nát có mùi thơm.  Các thông tin khác về thực vật Chi Amomum Roxb ở Việt Nam khoảng 30 loài, trong đó có một số loài mà quả của nó có thể thu hái, sử dụng với tên gọi chung là “Sa nhân” đó là (i)- Amomumvillosum lour, (ii)- A ovoi deum pierre ex Gagnep, (iii0- A thyrsoideum Gahnep, (iv) Sa nhân tím (A.Wu) kể trên.

Cả 4 loài này đều có đặc điểm hình thái bên ngoài của cây, cụm hoa và quả tƣơng đối giống nhau. Đặc điểm để nhận biết duy nhất là lá bẹ của Sa nhân tím A.Wu dài hơn nhiều (1,5 - 3,0 cm) so với là bẹ của 3 loài kia thƣờng chỉ dài dƣới 1 cm).  Phân bố Ở Việt Nam: Quảng Nam (các huyện Đông Giang, Tây Giang, Trà My ; Quảng Ngãi a Tơ, Sơn Hà, Trà ồng, Sơn Tây, Đức Phổ; ình Định V nh Sơn, Vân Canh), Phú Yên (Sông Hinh, Sơn Trà ; Khánh Hòa Khánh sơn, Khánh V nh ; Kom Tum Sa Thầy; Gia Lai K’ ang, An Khê ; Đắk Lắc; Phú Thọ (Yên Lập. Ngoài ra còn đƣợc trồng ở một số địa phƣơng khác [29].

6 Ở thế giới: Trung Quốc, Lào.  Đặc điểm sinh học Sa nhân tím là cây ƣa ẩm, hơi chịu bóng hoặc có thể trở lên ƣa sáng khi đã phát triển thành các quần thể nhỏ, dày đặc trên các nƣơng dãy cũ. Cây thƣờng mọc thành đám trên ở ven rừng kín thƣờng xanh nguyên sinh hay đã thứ sinh, nhất là dọc hành lang các khe suối; Độ cao 450-700m. Nhìn vào phân bố Sa nhân tím ở Việt Nam cho thấy, cây mọc chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam trở vào đến Bình Thuận.

Những tỉnh tập chung nhiều Sa Nhân phải kể đến: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai… Sa nhân tím thuộc loại cây có biên độ sinh thái rộng, cây thích nhi cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới điểm hình ở các tỉnh phía Nam, với 2 mùa mƣa khô rõ rệt, nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 22-240c.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ