Đặt vấn đề Đậu tương (Glycine max (L.) Merill) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu quan trọng có giá trị kinh tế cao. Trong hạt đậu tương chứa hàm lượng dinh dưỡng quan trọng như: protein (40 - 50%), lipit (12 - 24%) các vitamin cùng với các chất khoáng quan trọng khác như vitamin PP, A, C, E, D, K, các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, có tác dụng tốt cho con người (Đoàn Thị Thanh Nhàn & cs. Do đó đậu tương ngoài được sử dụng làm nguồn thực phẩm cho con người còn là nguồn thức ăn giàu đạm cho chăn nuôi. Bên cạnh đó, đậu tương còn là cây có khả năng cố định đạm, làm tăng độ phì của đất, cải tạo đất rất tốt góp phần canh tác bền vững.
Ngoài ra, đậu tương là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn có thể trồng xen, trồng gối và trồng luân canh nhiều vụ trong năm góp phần nâng cao năng suất, cải tạo đất và nâng hệ số sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Do nhu cầu sử dụng đậu tương trong nước có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây trong khi hiện trạng sản xuất đậu tương trong nước lại có xu hướng suy giảm cả về diện tích và sản lượng. Do đó, nhiều năm qua nước ta đã phải nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn lên đến hàng triệu tấn mỗi năm. Trước thực trạng trên cần phải nhanh chóng chọn tạo và đưa ra sản xuất đại trà các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với nhiều vùng sinh thái trong cả nước.
Trong quá trình chọn tạo giống thì khảo sát là một bước quan trọng nhằm tuyển chọn ra được các dòng, giống có triển vọng để đưa vào so sánh giống. Góp phần giải quyết vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân trên đất Gia Lâm, Hà Nội’’. Mục đích - Đánh giá khả năng sinh trưởng, khả năng chống chịu và năng suất của các dòng, giống đậu tương từ đó đề xuất một số dòng, giống có triển vọng đưa vào so sánh giống tiếp theo. Yêu cầu - Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tương trong vụ xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội.
- Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống đậu tương. - Theo dõi khả năng chống chịu và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các dòng, giống đậu tương. - Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống đậu tương. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tƣơn tr n thế gi i 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là cây trồng ngắn ngày, vừa là cây lấy hạt vừa là cây lấy dầu đem lại giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, đứng hàng thứ 4 trên thế giới sau cây lúa mì, lúa nước và ngô. Với khả năng thích ứng rộng và cải tạo đất rất tốt, đậu tương đã trở thành một trong những cây trồng chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới và được trồng ở khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất là châu Mỹ, tiếp đến là châu Á. Phát triển đậu tương đã mang tính chiến lược chung của nhiều quốc gia.
Tình hình sản xuất đậu tƣơn tr n t ế gi i nhữn năm ần đây (Nguồn: FAOSTAT, 2021) Về diện tích, qua đồ thị 2.1 ta thấy tình hình đậu tương không ngừng tăng lên qua các năm. Cụ thể, diện tích đậu tương trên thế giới luôn được mở rộng 3 hàng năm. Năm 1990 diện tích đậu tương là 57,21 triệu ha, thì đến năm 2010 diện tích đậu tương đạt 102,77 triệu ha tăng gần gấp đôi sau 20 năm, và đến năm 2019 diện tích đậu tương đạt 120,5 triệu ha. Giai đoạn 2006-2015 tăng mạnh qua các năm, tuy nhiên năm 2007 diện tích đậu tương đã bị giảm 5,14 triệu ha so năm 2006.
Giai đoạn 2007-2015 diện tích đậu tương tăng lên khá nhanh, năm 2015 đạt 120,79 triệu ha tăng 30,71 triệu ha so với năm 2007. Giai đoạn 2017-2019 diện tích đậu tương trên thế giới có xu hướng giảm. Năm 2017 diện tích đạt 125,85 triệu ha, đến năm 2019 diện tích trồng giảm 5,35 triệu ha so với năm 2017. Về năng suất cho thấy giai đoạn 1990-2006 có nhiều biến đổi qua các năm.
Năm 1990 năng suất đậu tương là 1,9 tấn/ha, đến năm 2006 năng suất đạt 2,32 tấn/ha tăng 0,42 tấn/ha. Năng suất đậu tương giai đoạn 2006-2009 cho thấy có sự biến động nhẹ, vào năm 2009 năng suất đậu tương giảm 0,07 tấn/ha so với năm 2006. Nhưng nhìn chung thì năng suất đậu tương vẫn có những bước tăng đáng kể. Trong 3 năm từ 2014 đến 2017, năng suất đậu tương thế giới có sự tăng trưởng ổn định hàng năm khoảng 0,03% từ 2,60 tấn/ha năm 2014 đến 2,86 tấn/ha năm 2017.
Đến giai đoạn năm 2018-2019 diện tích và năng xuất có xu hướng giảm nhẹ so với năm 2017. Cùng với sự tăng lên về diện tích và năng suất thì sản lượng đậu tương của thế giới cũng được tăng lên nhanh chóng. Vào những năm gần đây, cùng với sự tăng lên về diện tích, năng suất biến động nhỏ, sản lượng đậu tương trên thế giới tăng dần và được thể hiện rõ qua ảnh trên. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tháng 5/2020, sản lượng đậu tương thế giới 2020/2021 ước tính sẽ là 362,76 triệu tấn.
Diện tíc , năn suất, sản lƣợn đậu tƣơn của một số quốc gia năm 2019 D ện tíc Năn suất Sản lƣợn Quốc a (tr ệu ha) (tấn/ha) (tr ệu tấn) Argentina 16,58 3,33 55,26 Brazil 35,88 3,19 114,27 Canada 2,27 2,66 6,05 Mỹ 30,35 3,19 96,79 Nga 2,77 1,57 4,36 Trung Quốc 8,43 1,87 15,73 Paraguay 3,57 2,39 8,52 Ukraine 1,61 2,29 3,70 Bolivia 1,39 2,16 2,99 Ấn Độ 11,13 1,19 13,27 (Nguồn: FAOSTAT, 2021) Đậu tương được trồng nhiều nước trên thế giới. Trong đó, trên thế giới có Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ là những quốc gia trồng đậu tương đứng đầu về diện tích gieo trồng và sản lượng và Mỹ là quốc gia sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới. Qua bảng số liệu 2.1, thì Mỹ là quốc gia có năng suất đậu tương cao nhất. Năm 2015 năng suất đậu tương của Mỹ là 3,2 tấn/ha, đến năm 2016 tăng cao đạt 3,49 tấn/ha, tuy nhiên giai đoạn 2017-2019 lại có xu hướng giảm, đến năm 2019 Mỹ có năng suất đạt 3,19 tấn/ha.
Hai quốc gia có sự tương đồng về diện tích trồng đậu tương và năng suất thấp là Trung Quốc và Ấn Độ. Hai quốc gia này có năng suất đậu tương thấp, chủ yếu là khâu chế biến bảo quản còn hạn chế. Vì vậy mà sản lượng đậu tương của các quốc gia này chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước. Dẫn đến phải nhập 5 một lượng lớn đậu tương của các nước trong khu vực châu Mỹ.
Mỹ, Braxin, Argentina, là các quốc gia chủ yếu xuất khẩu đậu tương. Sản lƣợn đậu tƣơn xuất khẩu của top các nƣ c xuất khẩu nhiều trên thế gi i từ năm 2015-2020 (triệu tấn) Nƣ c Trung Mỹ Brazil Argentina Ấn Độ Paraguay Năm Quốc 2015-2016 106,869 96,500 58,800 12,367 6,929 9,217 2016-2017 116,931 14,600 55,000 13,596 10,992 10,336 2017-2018 120,065 122,000 37,800 15,283 8,350 10,300 2018-2019 120,515 117,000 55,300 15,900 10,930 8,850 2019-2020 96,615 123,000 53,000 17,100 9,000 10,200 Nguồn: Oilseeds- World Market and Trade, a USDA Publication Sản lượng đậu tương của các nước qua các năm cũng có nhiều biến đổi. Với công nghệ và kĩ thuật cao, áp dụng các biện pháp kĩ thuật tăng năng suất. Theo Nguyễn Thị Thanh Thanh, (1974) một trong 4 nguyên nhân thúc đẩy nền sản xuất đậu tương ở Mỹ lớn mạnh là do việc tăng năng suất đậu tương.
Vì vậy, sản lượng đậu tương của Mỹ không ngừng tăng lên và là quốc gia ở vị trí hàng đầu trong xuất khẩu tiếp đến là Brazil. Tuy nhiên giai đoạn 2019-2020 do nhiều yếu tố tác động thì sản lượng đậu tương của Mỹ có xu hướng giảm. Đứng sau Mỹ và Brazil thì Argentina là nước đứng thứ 3 trong việc sản xuất đậu tương. Tại đây thì đậu tương được trồng luân canh với lúa mì và ngày càng được chú trọng, đẩy mạnh phát triển sản lượng cũng tăng đều.
Trong khu vực Châu Á thì Trung Quốc là nước có sản lượng đứng thứ 4 và vẫn duy trì được qua các năm. Tuy nhiên, sản lượng cũng chỉ đáp ứng được khoảng một nửa nhu cầu. Và đó là lý do mà các nước châu Á vẫn phải nhập 6 khẩu đậu tương với 8 triệu tấn hạt; 1,5 triệu tấn dầu; 1,8 triệu tấn sữa đậu tương. Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonexia, Malayxia, Việt Nam là những nước nhập khẩu nhiều.
Trong đó nước nhập khẩu nhiều nhất trên thế giới là Trung Quốc tiếp đến là Nhật Bản, Đài Loan… Nhìn chung, với những giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế mà đậu tương mang lại thì việc sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây đã được đẩy mạnh phát triển. Giống là yếu tố mà tác động nhiều nhất đến năng suất và sản lượng đậu tương tăng, đó là lý do vì sao mà phát triển bộ giống đậu tương cần phải được chú trọng. Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thâm canh trong sản xuất và sử dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương đã làm cho diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương đang tăng dần qua các năm. Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, thì đậu tương là một trong những cây trồng quan trọng nhất của thế giới, không chỉ cung cấp nguyên liệu cho các ứng dụng thực phẩm, thức ăn mà còn là nguồn nguyên vật liệu cho công nghiệp và dược phẩm đem lại những giá trị kinh tế cao.
Với hàm lượng dinh dưỡng cao hạt đậu tương chiếm phần quan trọng trong thực phẩm truyền thống ở nhiều nước châu Á, đặc biệt là Nhật Bản. Đậu tương giữ vai trò vô cùng quan trọng cũng như nhu cầu của con người. Nhận thức được điều đó nên nhiều quốc gia trên thế giới đã bắt tay vào nghiên cứu các giống đậu tương thúc đẩy nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản. Để thực hiện được điều đó thì cần phải đẩy mạnh phát triển nền khoa học kỹ thuật nhằm chọn tạo giống nhờ các phương pháp chọn lọc, nhập nội, lai tạo, gây đột biến tạo ra một tập đoàn giống phong phú đa dạng có năng suất cao, phẩm chất tốt có thể trồng ở nhiều điều kiện khí hậu, vùng sinh thái khác nhau.