ĐẶT VẤN ĐỀ Thời gian vài năm trƣớc đây, rừng tự nhiên đã bị suy giảm nhanh chóng cả về số lƣợng và chất lƣợng. Trƣớc tình hình đó, nhiều cơ quan Lâm nghiệp, tổ chức cá nhân và ngƣời dân nhiều địa phƣơng đã đẩy mạnh kinh doanh rừng trồng. Việc trồng rừng đã góp phần đáng kể nâng cao tỷ lệ che phủ đất trống đồi núi trọc, đáp ứng nhu cầu về gỗ đồng thời tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho ngƣời dân sống gần rừng nhất là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa. Hiện tại việc trồng rừng các loài cây mọc nhanh cho năng suất cao đang là nhu cầu thực tiễn cấp thiết, với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Trồng rừng sản xuất ở nƣớc ta hiện nay đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngƣời đặc biệt từ khi thực hiện các Nghị định 01/CP của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất Lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích Lâm nghiệp. Các giá trị về kinh tế, xã hội và môi trƣờng mà lâm sản mang lại là vô cùng to lớn. Theo thống kê từ Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn năm 2009, giá trị sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ khoảng 2,27 tỷ USD, còn trong cơ cấu giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 thì gỗ và sản phẩm gỗ đứng vị trí thứ 3. Kết quả này cho thấy lâm sản là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.
Để đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy, ván nhân tạo, gỗ xẻ công nghiệp và đóng đồ gia dụng khi rừng tự nhiên đang đóng cửa thì việc đầu tƣ phát triển rừng trồng sản xuất với những loài cây mọc nhanh là rất cần thiết. Trong số những loài cây mọc nhanh phục vụ trồng rừng sản xuất thì Keo lai là loài có nhiều triển vọng, với ƣu thế nhƣ khả năng thích nghi cao, sinh trƣởng nhanh và cải tạo đất tốt (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003). Đến nay các loài Keo đƣợc đánh giá là nhóm loài có hiệu quả kinh tế cao, chu kỳ kinh doanh ngắn, có thị trƣờng rộng và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam nói chung và Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Cũng nhƣ nhiều địa phƣơng khác, Công ty TNHH Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là một công ty có tiềm năng lớn về đất Lâm nghiệp để phát triển rừng trồng nói riêng và sản xuất Lâm nghiệp nói chung đã có những nổ lực, các biện pháp kỹ thuật để nâng cao chất lƣợng cây Keo lai đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể nhằm chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ nói chung và nguồn nguyên liệu bột giấy nói riêng tại Bà Rịa - Vũng Tàu, với những lý do trên tôi xin tiến hành làm đề tài :“Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế rừng Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculifomis) trồng tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”.
Từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng hiệu quả các mô hình trồng rừng kinh tế tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Keo lai là tên gọi viết tắt của giống lai tự nhiên giữa hai loài Keo tai tƣợng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis).
Giống lai này đƣợc Messrs Hepbum và Shim phát hiện năm 1972 trong những hàng cây trồng ven đƣờng. Năm 1978 khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) Pedkey đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tƣợng và Keo lá tràm. Trong tự nhiên Keo lai cũng đƣợc phát hiện ở Papu NewGuinea (Turn bull,1986; Grinfin, 1988) dẫn theo Lê Đình Khả (1997). Nghiên cứu năm 1987 của Rufelds cho thấy tại miền Bắc Sabah – Malaisia, Keo lai xuất hiện ở rừng Keo tai tƣợng 3 - 4 cây/ha còn Wong thì thấy xuất hiện tỷ lệ 1/500cây.
Năm 1991 Cyrin Pinso và Robert NaSi đã thấy tại khu UluKukut cây lai tự nhiên đời F1 sinh trƣởng khá hơn các xuất xứ của Keo tai tƣợng ở Sabah. Các tác giả này cũng thấy rằng gỗ của Keo lai là trung gian giữa Keo tai tƣợng và Keo lá tràm, có phẩm chất tốt hơn Keo tai tƣợng. Tại Thái Lan (Kij Kar, 1992), Keo lai đƣợc tìm thấy ở vƣờn ƣơm Keo tai tƣợng (lấy giống từ Malaisia) tại trạm nghiên cứu Jon – Pu của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al,1989). Trong giai đoạn vƣờn ƣơm Keo lai hình thành lá giả (Phylod) sớm hơn Keo tai tƣợng và muộn hơn Keo lá tràm, dẫn theo Lê Đình Khả (1997).
Keo lai đã đƣợc nghiên cứu nhân giống thành công bằng hom (Griffin, 1991). Tuy nhiên, trên thế giới vẫn chƣa có những nghiên cứu về tính chất vật lý và cơ học cũng nhƣ tính chất bột giấy của Keo lai và chƣa có những nghiên cứu chọn lọc cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính để từ đó tạo ra các dòng tốt nhất để đƣa vào sản xuất (Lê Đình Khả,1999). Hiện nay Keo lai đƣợc trồng rất nhiều quốc gia trên thế giới: Australia, Papua new Guinea va Indonexia, Malaixia, Philippin phù hợp với nhiều điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 kiện sinh thái, cây phát triển nhanh, trồng dễ sống, trong một chu kỳ cho một sinh khối lớn hơn các loài Keo khác và chất lƣợng gỗ cũng đẹp. Sinh trƣởng và sản lƣợng: Qua các số liệu khảo nghiệm và trồng rừng thực tế thì sinh trƣởng cây Keo lai sinh trƣởng rất nhanh và cho sinh khối lớn hơn rất nhiều so với các loài cây Keo bố mẹ và các giống Keo lai khác.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Vấn đề giống Keo lai Ở nƣớc ta, Keo lai xuất hiện lác đác một số nơi ở Nam Bộ nhƣ Tân Tạo, Trảng Bom, Sông Mây và ở Ba Vì (Hà Tây), Phú Thọ, Hoà Bình và Tuyên Quang…(Lê Đình Khả,1999). Những cây lai này đã xuất hiện trong rừng Keo tai tƣợng với những tỷ lệ khác nhau. Ở các tỉnh Miền Nam là 3-4%, còn ở Ba Vì là 4-5%.
Riêng giống lai tự nhiên tại Ba Vì đƣợc xác định là Acacia Mangium (xuất xứ Daitree thuộc bang Queensland) với Acacia auriculiformis (xuất xứ Darwin thuộc Bang Northern Territoria) của Australia. Keo lai đƣợc phát hiện và khảo nghiệm đợt 1 từ năm 1993 – 1995, đến năm 1996 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với các đơn vị khác tiếp tục nghiên cứu về Keo lai. Các nghiên cứu này là chọn lọc thêm các cây trội Keo lai tự nhiên, xây dựng khảo nghiệm các dòng vô tính, tiến hành đánh giá tiềm năng bột giấy của Keo lai cũng nhƣ tiến hành khảo nghiệm các dòng Keo lai đƣợc lựa chọn ở các vùng sinh thái khác nhau (Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Văn Thảo và các cộng sự,1999; Lê Đình Khả,1999). Kết quả cho thấy Keo lai có ƣu thế lai rõ rệt về sinh trƣởng so với Keo tai tƣợng và Keo lá tràm, có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa Keo tai tƣợng và Keo lá tràm.
Khi cắt cây để tạo chồi thì Keo lai cho rất nhiều chồi (trung bình 289 hom/01gốc). Các hom này có tỷ lệ ra rễ trung bình 47% trong đó có 11 dòng cho ra rễ từ 57 - 85%. Sai khác giữa các dòng về sinh trƣởng là khá rõ. Một số dòng vô tính sinh trƣởng rất nhanh nhƣng các chỉ tiêu chất lƣợng không đạt yêu cầu, một số dòng vừa sinh trƣởng nhanh vừa có các chỉ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tiêu chất lƣợng tốt có thể nhân giống nhanh và số lƣợng nhiều đƣa vào sản xuất nhƣ các dòng BV5, BV10, BV16, BV29, BV32.
Năm 1996 -1997 việc chọn lọc cây trội tại Ba Vì (Hà Tây) và khu vực Đông Nam Bộ nhƣ khu vực Bầu Bàng, Sông Mây và trƣờng Cao Đẳng Lâm nghiệp. Ở Ba Vì điều kiện lập địa khá khắc nghiệt (đất đồi trọc, nghèo dinh dƣỡng và mùa đông lạnh). Ở Đông Nam Bộ là đất phù sa cổ sâu, ít bị đá ong hoá, tƣơng đối bằng phẳng, có nắng quanh năm. Vì vậy, Keo lai ở Ba Vì sinh trƣởng chậm hơn ở Đông Nam Bộ song các cây lai đƣợc chọn cả hai nơi đều có sinh trƣởng vƣợt trội rõ rệt hơn so với Keo tai tƣợng, số liệu dƣới đây cho thấy những cây Keo lai đƣợc lựa chọn có đƣờng kính vƣợt Keo tai tƣợng 30,1 - 149,1% (tại Ba Vì) và 25,3 - 107,7% (tại Đông Nam Bộ), chiều cao vƣợt Keo tai tƣợng từ 29,4 - 125,8% (tại Ba Vì) và 12,1 - 81,8% (tại Đông Nam Bộ).
Đây cũng là những cây Keo lai có hình dáng thân cây và tán lá đẹp nhất ở mỗi nơi, khảo nghiệm dòng vô tính có thể sẽ chọn đƣợc một số dòng tốt nhất để phát triển vào sản xuất (Lê Đình Khả, Nguyễn Văn Thảo, Phạm Văn Tuấn và các cộng sự 1999; Lê Đình Khả, 1999). Khảo nghiệm một số dòng vô tính mới đƣợc chọn năm 1996 ở (Cẩm Quỳ) đã đƣợc xây dựng ngay tại nơi chọn lọc cây mẹ. Nguồn Keo lai đƣợc lựa chọn là từ các rừng Keo tai tƣợng đƣợc lấy giống từ Đồng Nai, thấy nổi lên một số nét chính các cây trội Keo lai mới đƣợc chọn mặc dù có độ vƣợt ban đầu khá lớn, song qua khảo nghiệm đều thấy sinh trƣởng kém hơn các dòng Keo lai cũ là BV5, BV10. Trong 14 dòng đƣa vào khảo nghiệm có 10 dòng vƣợt các loài Keo có bố mẹ đƣợc trồng làm đối chứng.
Trong đó có 8 dòng có độ vƣợt lớn hơn 25% so với các loài cây bố mẹ (Lê Đình Khả và các công sự, 1997-1999). Hệ số biến động về đƣờng kính và chiều cao của Keo lai cũng luôn nhỏ hơn Keo tai tƣợng và Keo lá tràm, nghĩa là Keo lai có ƣu điểm có đƣờng kính và chiều cao đồng đều hơn Keo tai tƣợng (Lê Đình Khả và các cộng sự, 1997). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Một số dòng Keo lai đƣợc lựa chọn có hàm lƣợng xenlulô cao hơn hai loài bố mẹ và cao hơn Bạch đàn Caman. Độ chịu kéo, độ gấp, và độ trắng giấy của Keo lai cũng cao hơn hai loài bố mẹ, bồ đề và mỡ.
Nghiên cứu của Lê Đình Khả và các cộng sự năm 1997 cho thấy không nên dùng hạt của Keo lai trồng rừng mới.