ĐẶT VẤN ĐỀ Thực tế cho thấy ở nƣớc ta trong những năm trƣớc đây năng suất rừng tự nhiên chỉ đạt từ 2-3 m3/ha/năm, năng suất rừng trồng cũng chỉ đạt 5- 10 m3/ha/năm. Gần đây do những thành quả của cải thiện giống, năng suất rừng trồng một số loài cây ở một số nơi đã tăng lên rõ rệt. Tuy vậy, hiện nay chúng ta phải nhập tới 80% gỗ nguyên liệu phục vụ chế biến đồ mộc và chủ yếu là gỗ lớn. Sự phát triển của Khoa học và công nghệ chế biến cũng nhƣ nhu cầu ngày càng lớn của thị trƣờng lâm sản dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ về quy mô diện tích của các loài cây mọc nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn đáp ứng mục tiêu kinh doanh gỗ trụ mỏ, gỗ nguyên liệu,… Chính vì vậy, việc trồng rừng sản xuất với năng suất cao, có giá trị kinh tế cao ít đƣợc quan tâm tới bởi kinh phí đầu tƣ cao, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao kết hợp lợi ích xã hội và môi trƣờng.
Bởi vậy, một mục tiêu quan trọng phải hƣớng tới đã đặt ra trong chiến lƣợc phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2010 - 2020 và những năm tiếp theo là khả năng cung cấp gỗ từ rừng sản xuất trong nƣớc phải đạt 20 - 24 m3 gỗ/ha/năm. Vì vậy, đòi hỏi cấp bách hiện nay là phải tạo ra nguồn cung cấp gỗ nguyên liệu có nguồn gốc từ rừng trồng. Để đảm bảo nhu cầu của xã hội đòi hỏi ngành lâm nghiệp phải đáp ứng. Điều đó chỉ có thể giải quyết khi công tác tuyển chọn giống tốt đƣợc quan tâm, lựa chọn loài thích hợp với điều kiện lập địa, kết hợp với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thâm canh theo chiều sâu.
Việc trồng rừng ngày càng đi theo hƣớng thâm canh tăng năng suất với mục tiêu kinh tế rõ ràng thì yêu cầu về giống có chất lƣợng, lập địa và kỹ thuật gây trồng thích hợp là 3 yếu tố tạo nên rừng trồng cho năng suất, chất lƣợng cao, đáp ứng mục đích kinh doanh đề ra. Gia Lai trong những năm gần đây mỗi năm trung bình trồng mới từ 5000 - 6000 ha rừng gỗ nguyên liệu chủ yếu là Keo các loại. Một câu hỏi đƣợc đặt ra là tại sao sinh trƣởng của loài có 2 xu thế giảm dần theo chu kỳ kinh doanh và câu trả loài có phải do ở đây chƣa quan tâm đến các yếu tố thích hợp hay không…Để có câu trả lời chính xác đề tài “Đ s trưởng của Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) trồng rừng sản xuất tại công ty MDF VINAFOR, tỉnh Gia La ” đã đƣợc đề xuất thực hiện. Vấn đề nghiên cứu đƣợc đặt ra là hết sức cần thiết nhằm đánh giá thực trạng sinh trƣởng và một số nhân tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, năng suất, làm cơ sở đề xuất giải pháp kỹ thuật trồng rừng sản xuất năng suất cao và ổn định tại khu vực nghiên cứu.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới * Những nghiên cứu về “Ả ưởng của giố đế suất rừng trồng t â ca ” Giống là một trong những khâu quan trọng bậc nhất của trồng rừng thâm canh. Mục đích của cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lƣợng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác từ rừng. Trên thế giới đã có rất nhiều nƣớc đi sâu nghiên cứu về vấn đề này điển hình là các nƣớc: Công-gô, Brazin, Swaziland, Malayxia, Zimbabwe,… Ở Công-gô, bằng phƣơng pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt tới 35 m3/ha /năm ở giai đoạn 7 năm tuổi.
Tại Brazin, bằng con đƣờng chọn lọc nhân tạo đã chọn đƣợc giống Bạch đàn Eucalyptus grandis có năng suất đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng (Welker, 1986). Tại Swaziland cũng đã chọn đƣợc giống Thông Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt năng suất 19m3/ha/năm (Pandey, 1983). Ở Zimbabwe cũng đã chọn đƣợc giống Bạch đàn Eucalyptus grandis đạt từ 35m3- 40m3/ha/năm, giống Bạch đàn E. urophylla đạt trung bình tới 55m3/ ha/năm, có nơi lên tới 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988).
* Những nghiên cứu về “Ả ưởng của đ ều kiện lập địa đến khả s trưởng, phát triển của rừng trồ ” Kết quả nghiên cứu của tổ chức Nông - Lƣơng Liên hiệp quốc (FAO, 1994) ở các nƣớc vùng nhiệt đới đã chỉ ra rằng: khả năng sinh trƣởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng cây nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì. 4 Nghiên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển, điều này đƣợc thể hiện ở sự khác nhau về đặc điểm của các phẫu diện đất, đó là độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý, hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trƣởng của rừng trồng trên các loại đất khác nhau là khác nhau. Khi đánh giá khả năng sinh trƣởng của loài Thông Pinus patula ở Swaziland (Châu Phi), Julian Evans (1992) đã chứng minh khả năng sinh trƣởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phƣơng trình tƣơng quan sau: Y = -18,75 + 0,0544 x3 + 0,0185x4 + 0,0449x5 + 0,5346 x11 Trong đó: Y: Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m); x3: Độ cao so với mặt nƣớc biển (m); x4: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%); x5: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%); x11: Độ phì của đất đã đƣợc xác định.
Cùng với đó, Julian Evans (1992) cũng đã kết luận khí hậu có ảnh hƣởng khá rõ đến năng suất rừng trồng, đặc biệt là sự ảnh hƣởng của tổng lƣợng mƣa bình quân hàng năm, sự phân bố lƣợng mƣa trong năm, lƣợng bốc hơi và nhiệt độ không khí. Khi nghiên cứu về sản lƣợng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.M và cộng sự (2004) cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hôn” thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác. Ngoài ra tác giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lƣợng rừng có liên quan đến các yếu tố môi trƣờng theo thứ tự mức độ quan trọng sau: Nƣớc, dinh dƣỡng, độ sâu tầng đất. Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lƣợng của rừng trồng.
5 * Những nghiên cứu về “Ả ưởng của mật độ trồ đến khả s trưởng và chất lượng rừng trồ ” Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hƣởng đến năng suất rừng trồng. Đối với mỗi dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau. Về vấn đề này đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là: Công trình nghiên cứu của Julian Evans (1992) khi nghiên cứu mật độ trồng rừng cho Bạch đàn E. deglupta ở Papua New Guinea đã bố trí 4 công thức có mật độ trồng khác nhau (2.075 cây/ha; 750 cây/ha), số liệu thu đƣợc sau 5 năm trồng cho thấy đƣờng kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhƣng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, điều này có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy lƣợng tăng trƣởng về đƣờng kính cao hơn nhƣng trữ lƣợng gỗ cây đứng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao.
Trong một nghiên cứu khác với thông Pinus caribeae ở Quensland (Australia), tác giả cũng đã thí nghiệm với 5 công thức mật độ khác nhau (2.075 cây/ha và 750 cây/ha), sau hơn 9 năm trồng kết quả ở các công thức trồng mật độ thấp (750 cây/ha - 1.075 cây/ha) có đƣờng kính trung bình đạt từ 20,1 - 20,9 cm, số cây đạt đƣờng kính 19 (D1.3) > 10cm chiếm từ 84% - 86%; ở công thức mật độ cao, đƣờng kính chỉ đạt từ 16,6 - 17,8cm, số cây có đƣờng kính (D1.3) > 10cm chỉ chiếm từ 71% - 76%. Tại Malaysia (1995), ngƣời ta tiến hành xây dựng rừng hỗn loài nhiều tầng trên 3 đối tƣợng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tƣợng và rừng Tếch với 23 loài bản địa có giá trị, trồng theo băng cho chiều rộng khác nhau (10m, 20m, 6 30m, 40m) và phƣơng thức hỗn giao khác nhau. Kết quả cho sinh trƣởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m. Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy mật độ trồng ảnh hƣởng khá rõ đến chất lƣợng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì vậy cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp.
* Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng Lĩnh vực kỹ thuật trồng rừng trên thế giới cũng đã đƣợc đề cập đến khá toàn diện từ khâu chuẩn bị đất trồng rừng đến phƣơng thức trồng, kỹ thuật trồng, chăm sóc và nuôi dƣỡng rừng. Chuẩn bị đất trồng rừng là khâu công việc tốn nhiều công sức nhƣng có ảnh hƣởng lớn đến năng suất và chất lƣợng rừng trồng. Ở các nƣớc tiên tiến nhƣ Mỹ, Liên Xô cũ, Đức, Canada, Brazil,… công việc làm đất trồng rừng chủ yếu đƣợc thực hiện bằng các loại máy có công suất lớn và hiện đại. Những năm gần đây, ở Brazil, Công Gô, Inđônêxia đã sử dụng cày ngầm với máy kéo xích Komatsu công suất trên 200ml để làm đất trồng rừng bạch đàn với độ sâu cày 80 - 90 cm, cho năng suất rừng đạt trên 50m3/ha/năm.
Về phƣơng thức trồng rừng, bên cạnh rừng trồng thuần loài, các nghiên cứu trồng rừng hỗn loài cũng đã đƣợc chú ý nghiên cứu. Trong việc thiết lập rừng hỗn giao, nguyên tắc cảm nhiễm tƣơng hỗ, hay là nhóm sinh thái của các loài đặc biệt đƣợc các nhà nghiên cứu chú ý. Kolesnitsenko (1977) khi nghiên cứu về vấn đề này đã đề nghị mật độ cây trồng chính trong mô hình rừng hỗn loài không nên ít hơn 50%, các loài cây hoạt hoá không quá 30 - 40% và các loài cây ức chế không ít hơn 10 - 20% trong tổng các loài cây của mô hình.