Mở đầu Chƣơng 1: Khái quát độ nguy hiểm sóng thần trong khu vực Biển Đông Chƣơng 2: Xây dựng phƣơng pháp luận và quy trình đánh giá rủi ro sóng thần cho khu vực đô thị ven biển Việt Nam Chƣơng 3: Đánh giá độ rủi ro sóng thần gây ra đối với khu vực đô thị thành phố Nha Trang Kết luận Tài liệu tham khảo 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT ĐỘ NGUY HIỂM SÓNG THẦN TRONG KHU VỰC BIỂN ĐÔNG Trong chƣơng này, một số khái niệm cơ bản liên quan tới sóng thần sẽ đƣợc giới thiệu trong phần đầu. Trong phần tiếp theo sẽ điểm qua tình hình nghiên cứu sóng thần ở Việt Nam từ trƣớc đến nay, trên cơ sở đó đƣa ra một bức tranh khái quát về mức độ nguy hiểm sóng thần trên khu vực Biển Đông và các vùng biển lân cận.1 Một số khái niêm cơ bản về sóng thần Sóng thần là gì Tên gọi quốc tế của sóng thần là Tsunami. Từ “Tsunami” có xuất xứ từ tiếng Nhật, trong đó “tsu” nghĩa là “cảng” và “nami” nghĩa là “sóng”. Sóng thần là một chuỗi các đợt sóng lớn có bƣớc sóng dài đƣợc sinh ra do các biến động địa chất mạnh mẽ xảy ra ở đáy biển và đại dƣơng tại gần bờ hoặc ngoài khơi.
Khi sự di chuyển đột ngột của các cột nƣớc lớn xảy ra, hoặc đáy biển đột ngột nâng lên hay hạ xuống do tác động của động đất, sóng thần đƣợc hình thành dƣới tác động của trọng lực. Các đợt sóng nhanh chóng lan truyền trong môi trƣờng nƣớc và trở nên vô cùng nguy hiểm với khả năng tàn phá lớn khi chúng tiến vào bờ biển nông. Vận tốc lan truyền của sóng thần. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sóng thần có đặc điểm vật lý rất khác biệt so với sóng triều.
Sóng triều là những dao động mang tính chu kỳ, liên quan đến sự lên, xuống của thủy triều sinh ra bởi lực hấp dẫn giữa Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái Đất. Sóng mà chúng ta nhìn thấy ở biển đƣợc hình thành do gió thổi trên mặt biển. Độ mạnh của sóng tùy thuộc vào độ mạnh của gió và khoảng cách mà gió thổi. Thông thƣờng bƣớc sóng khoảng từ vài chục xăngtimét và có thể đến một vài chục mét.
Tốc độ dịch chuyển qua đại dƣơng từ vài km/giờ đến 100 km/giờ. Nguyên nhân gây ra sóng thần Hầu hết các đợt sóng thần có sức phá hủy lớn đều đƣợc hình thành từ các trận động đất lớn và nông (chấn tâm gần mặt đất). Các trận động đất này đƣợc sinh ra từ các đứt gãy hoạt động ngay trên bề mặt đáy biển, tại các vùng có hoạt động kiến tạo dọc theo ranh giới các mảng kiến tạo. Khi các mảng kiến tạo va chạm vào nhau thì chúng có thể làm nghiêng, gây sụp hay dịch chuyển cả một diện tích lớn của thềm đại dƣơng từ một vài kilômét đến hàng nghìn kilômét hoặc nhiều hơn nữa.
Sự di chuyển đột ngột theo phƣơng thẳng đứng của một khối đất đá trên diện tích lớn khiến bề mặt đáy biển bị thay đổi, kéo theo sự di chuyển của khối nƣớc nằm trên đó và tạo nên sóng thần. Các đợt sóng này có thể di chuyển rất xa từ vị trí chúng đƣợc hình thành, đồng thời gieo rắc sự phá hủy trên quãng đƣờng mà chúng đi qua. Mặc dù hiếm khi xảy ra, nhƣng các đợt phun trào núi lửa mạnh cũng có thể gây ra sự xáo trộn các khối nƣớc trong lòng đại dƣơng và tạo ra các đợt sóng thần trong khu vực đó. Trong quá trình này, sóng thần có thể đƣợc tạo ra do sự di chuyển đột ngột của nƣớc khi núi lửa phun nổ, hoặc do trƣợt lở sƣờn núi, hoặc magma núi lửa đột ngột phun lên chiếm thể tích của nƣớc biển và hoặc là do bể magma bị sụt lún.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dấu hiệu xuất hiện sóng thần Động đất là một dấu hiệu cảnh báo sóng thần của tự nhiên. Nếu bạn đang ở vùng bãi biển và cảm thấy nền đất rung lắc mạnh đến mức bạn không còn đứng vững đƣợc, thì có khả năng đã xảy ra một trận động đất gây sóng thần. Trƣớc khi sóng thần ập đến thƣờng có dấu hiệu là nƣớc biển rút đi rất nhanh để lộ cả những tảng đá và cá nằm trơ trên đáy biển. Khi sóng thần ập vào bờ, bạn sẽ nghe thấy một tiếng gầm rú giống nhƣ có một chuyến tàu hỏa đang đến gần.
Thiệt hại do sóng thần Năm 1960, tại Chilê, trận động đất lớn với cƣờng độ 9,5 độ Richter làm cho một vùng rộng trên 1000 km bị biến dạng, từ đó sinh ra một đợt sóng thần rất lớn. Các ngọn sóng của chúng đã phá hủy các vùng đất không những ở Chilê mà cả những nơi khác rất xa nhƣ Hawaii, Nhật Bản và các khu vực khác trên Thái Bình Dƣơng. Cần lƣu ý rằng, không phải tất cả các trận động đất đều dẫn đến sóng thần. Thông thƣờng, chỉ có các trận động đất lớn hơn 6,5 độ Richter mới có khả năng tạo ra sóng thần.
Tại Ấn độ dƣơng, vào ngày 26 tháng 12 năm 2004, một trận động đất lớn thứ tƣ tính từ năm 1900 đã xảy ra ngoài khơi đảo Sumatra, Indonesia. Trận động đất đƣợc đánh giá là có cƣờng độ 9,0 độ Rích te đã gây ra một dải đứt gẫy dài tới 1200 km. Nó tạo ra sóng thần có độ cao hơn 12m. Sóng thần đã giết hại hơn 283.000 ngƣời ở các vùng bờ Ấn độ Dƣơng và làm cho hơn 1.000 ngƣời mất nhà cửa.
Những thiệt hại do trận sóng thần này gây ra phải mất nhiều năm mới có thể khắc phục đƣợc. Gần đây nhất, vào ngày 11 tháng 3 năm 2011, tại vùng biển phía đông của Nhật bản lại xảy ra một trận động đất mạnh 9,0 độ làm phát sinh sóng thần lan dọc bờ biển Thái Bình Dƣơng của Nhật Bản và ít nhất 20 quốc gia, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao gồm cả bờ biển phía Tây của Bắc và Nam Mỹ. Sóng thần cao đến 38,9 m đã đánh vào Nhật Bản chỉ vài phút sau động đất, tại một vài nơi sóng thần tiến vào đất liền 10 km. Cho đến nay, số liệu đƣợc chính thức xác nhận cho thấy có 15.840 ngƣời chết, 5.950 ngƣời bị thƣơng và 3.642 ngƣời mất tích tại 18 tỉnh của Nhật Bản và hơn 125.000 công trình nhà ở bị hƣ hại hoặc phá hủy hoàn toàn do sóng thần.
Trận động đất và sóng thần đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng tại quốc gia này, bao gồm những hƣ hỏng nặng nề về đƣờng bộ và đƣờng sắt cũng nhƣ gây cháy nổ tại nhiều khu vực, kèm theo một con đập bị vỡ. Khoảng 4,4 triệu hộ gia đình rơi vào tình trạng mất điện và 1,5 triệu hộ bị mất nƣớc. Nhiều nhà máy phát điện đã ngừng hoạt động, và ít nhất 3 vụ nổ lò phản ứng do rò rỉ khí hydro đã xảy ra tại các lò phản ứng khi hệ thống làm mát bị hỏng hoàn toàn. Một trong những trận sóng thần lớn nhất đƣợc ghi lại là vào ngày 26/8/1883 sau vụ nổ lớn và sụt lún của núi lửa Krakatau ở Indonesia.
Vụ nổ đã tạo ra cơn sóng thần có độ cao đến hơn 40 m, phá hủy nhiều thị trấn và ngôi làng ven biển dọc theo eo biển Sunda của cả hòn đảo Java và Sumatra, khiến số ngƣời thiệt mạng lên tới 36. Ngoài ra, còn có các dẫn chứng cho rằng núi lửa ở Santorin trong vùng biển Aegean phun nổ vào năm 1490 trƣớc Công Nguyên là nguyên nhân của sóng thần đã nhấn chìm toàn bộ nền văn minh Minoan, Hy Lạp. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2- Sóng thần hình thành do động đất ở các đới hút chìm Hình 1.3- Sóng thần hình thành do trượt lở đất 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thiệt hại do trận động đất gây sóng thần 9,0 độ gây ra tại Nhật Bản ngày 11 tháng 3 năm 2011.
Tình hình nghiên cứu sóng thần ở Việt Nam Ở Việt Nam, trong khi việc nghiên cứu động đất đã đƣợc bắt đầu từ nửa thế kỷ trƣớc và đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể, nhƣng nghiên cứu về sóng thần vẫn còn ở một mức độ rất hạn chế. Trên thực tế, sóng thần trong một thời gian dài không đƣợc coi là thiên tai nguy hiểm nhất ở Việt nam so với những thiên tai khác nhƣ bão, lụt, lũ quét, v.v… Cho đến nay, chƣa có tài liệu chính thức nào đƣợc công bố về thiệt hại do sóng thần tại Việt Nam, và mặc dù có nhiều dấu hiệu cho thấy sóng thần đã từng gây thiệt hại cho cộng đồng cƣ dân ven biển miền Trung Việt Nam trong quá khứ, song tất cả những bằng chứng này chƣa bao giờ đƣợc nghiên cứu đầy đủ nên chúng vẫn chỉ đƣợc coi nhƣ là những giả thuyết cần chứng minh. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau thảm họa động đất - sóng thần Ấn Độ Dƣơng ngày 26 tháng 12 năm 2004, chính phủ Việt nam đã có những bƣớc đột phá trong việc triển khai các kế hoạch ứng phó với hiểm hoạ thiên nhiên này, trong đó có việc ban hành Quy chế của Thủ tƣớng Chính phủ về báo tin động đất, cảnh báo sóng thần (06/11/2006) và Quy chế của Thủ tƣớng Chính phủ về phòng chống động đất – sóng thần (29/05/2007). Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần thuộc Viện Vật lý Địa cầu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam đƣợc thành lập ngày 4 tháng 9 năm 2007 là cơ quan duy nhất đƣợc chính phủ giao trách nhiệm về việc báo tin động đất và cảnh báo sóng thần tại Việt Nam.
Chính trong thời gian này, hàng loạt đề tài, dự án nghiên cứu về sóng thần trên khu vực Biển Đông đã đƣợc triển khai thực hiện ở Việt Nam. Điển hình nhất có thể kể đến các đề tài, dự án sau: 1) “Nghiên cứu đánh giá độ nguy hiểm động đất và sóng thần vùng ven biển Việt Nam, đề xuất các biện pháp cảnh báo và phòng tránh”. Chủ nhiệm: GS. Nguyễn Đình Xuyên, chủ trì: Viện Vật lý Địa cầu.
Đề tài cấp Viện KH&CN Việt Nam (2005-2006). 2) “Đánh giá độ nguy hiểm sóng thần và khả năng ứng phó của Việt Nam”. Đề tài Hợp tác quốc tế giữa GNS (New Zealand) và Viện Vật lý địa cầu (Việt Nam), 2007 -2008. 3) “Quy trình công nghệ đánh giá độ nguy hiểm sóng thần và cảnh báo nguy cơ sóng thần vùng ven biển Việt Nam (phù hợp yêu cầu hệ thống cảnh báo khu vực)”.
Chủ nhiệm: TS. Trần Thị Mỹ Thành, chủ trì: Viện Vật lý Địa cầu. Đề tài cấp Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam, 2007-2008. 4) “Xây dựng tập bản đồ cảnh báo nguy cơ sóng thần cho các vùng bờ biển Việt Nam”.
Chủ nhiệm: PGS.