Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Lý luận chung về rủi ro kiểm toán và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Chương 3: Thực trạng quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Phan Dũng (PDAC) Chương 4: Nhận xét, kiến nghị về quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại công ty PDAC 2 Khoá luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hoàng Kim Thảo GVHD: Th.S Trần Thị Vinh CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN 2. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN 2. Khái niệm về rủi ro kiểm toán Mục đích tổng quát của kiểm toán là cung cấp sự đảm bảo cho bên thứ ba là những người sử dụng các thông tin tài chính rằng các thông tin họ được cung cấp có trung thực, hợp lý hay không. Tuy nhiên, do hạn chế tiềm tàng của cuộc kiểm toán cũng như từ hệ thống kiểm soát nội bộ mà luôn luôn tồn tại rủi ro không thể tránh khỏi đối với BCTC theo VSA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu.” đó là báo cáo tài chính vẫn còn chứa đựng những sai sót trọng yếu nhưng KTV lại nhận xét chúng đã được trình bày một cách trung thực và hợp lý.
Trường hợp KTV đưa ra ý kiến không thích hợp rằng BCTC đã được kiểm toán còn có sai sót trọng yếu trong khi thực tế các sai sót trọng yếu này không tồn tại thì không được xem là rủi ro kiểm toán. Trong trường hợp này, các KTV thường xem xét lại hoặc mở rộng các thủ tục kiểm toán và yêu cầu khách hàng thực hiện một số công việc cụ thể nhằm đánh giá lại sự thích hợp của BCTC. Các thủ tục này sẽ giúp KTV đưa ra nhận xét hợp lý hơn. Về mặt lý thuyết, phạm vi rủi ro kiểm toán đi từ 0 (hoàn toàn không có rủi ro kiểm toán) đến 1 (chắc chắn tồn tại rủi ro kiểm toán).
Tuy nhiên, trên thực tế rủi ro kiểm toán luôn luôn lớn hơn 0, các sai sót tiềm tàng luôn luôn tồn tại vì những hạn chế tiềm tàng trong hệ thống kế toán và kiểm toán liên quan mật thiết đến yếu tố môi trường và con người. Thông thường, các nghiệp vụ chính sẽ được giám sát chặt chẽ bởi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp nên ít có khả năng gia tăng các sai sót trọng yếu. Ngược lại, các nghiệp vụ bất thường và các khoản ước tính kế toán của doanh nghiệp thường làm gia tăng sai sót trọng yếu. Do đó, KTV cần phải giới hạn rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được bằng việc thiết kế các thủ tục kiểm toán hiệu quả nhằm thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho việc ra ý kiến.
Những nguyên nhân gây ra rủi ro kiểm toán 3 Khoá luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hoàng Kim Thảo GVHD: Th.S Trần Thị Vinh Rủi ro kiểm toán gắn liền với các sai sót trọng yếu trên BCTC. Các nguyên nhân dẫn đến BCTC có sai sót trọng yếu bao gồm: - KTV thường chỉ có thể chọn mẫu để kiểm tra chứ không thể kiểm tra toàn bộ tổng thể. - Bằng chứng KTV thu thập được chỉ mang tính thuyết phục, không phải là bằng chứng chứng minh tuyệt đối. - Gian lận thường khó phát hiện hơn sai sót.
- Hành vi không tuân thủ pháp luật. - Sự vi phạm giả thiết hoạt động liên tục. Việc hiểu rõ các nhân tố gây ra sai sót trọng yếu trên BCTC là vô cùng cần thiết trong công tác đánh giá rủi ro. Điều này giúp KTV dễ dàng theo dõi các dấu hiệu, điều kiện làm gia tăng rủi ro.
Sự cần thiết của việc đánh giá rủi ro Bất kì cuộc kiểm toán nào cũng có những hạn chế tiềm tàng dẫn đến khả năng KTV đưa ra ý kiến không thích hợp về BCTC. Bên cạnh đó, các nghiệp vụ phát sinh trong doanh nghiệp ngày càng phức tạp làm cho rủi ro kiểm toán tăng lên, đặc biệt khi doanh nghiệp cố tình gian lận. Trong khi đó, KTV không thể kiểm tra hết tất cả mà chỉ tập trung vào những vùng có rủi ro cao. Vì vậy, đánh giá rủi ro giúp KTV và công ty kiểm toán xác định được những số dư, nghiệp vụ có rủi ro cao, từ đó xác định mục tiêu kiểm toán trọng tâm, lựa chọn phương án tiếp cận và các thủ tục kiểm toán hữu hiệu và hiệu quả.
Vai trò đó được thể hiện cụ thể trong từng giai đoạn của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn tiền kế hoạch, đánh giá rủi ro giúp KTV và công ty kiểm toán quyết định nên tiếp nhận hay từ chối khách hàng, đồng thời ước lượng khối lượng công việc thực hiện để tính phí kiểm toán, sắp xếp KTV và xác định thời gian của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế hoạch, đánh giá rủi ro giúp KTV giới hạn phạm vi công việc ở mức độ cần thiết để vừa tiết kiệm thời gian vừa đảm bảo được chất lượng kiểm toán với một mức phí hợp lý và cạnh tranh, đồng thời xác định được các khoản mục chứa đựng rủi ro cao để sắp xếp và phân bổ nhân sự hợp lý. “Nội dung, thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán bao gồm phương hướng áp dụng các kỹ thuật kiểm toán đối với những khoản mục chủ yếu của báo cáo tài chính, được xây dựng dựa trên mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán đã được xác định và đánh giá.
Nội dung này có thể được trình bày dưới dạng một bảng phác thảo vắn tắt về các thủ tục kiểm toán chủ yếu hoặc một bảng kế hoạch sơ bộ cho kiểm toán các khoản mục (hình 1. Các thông tin này 4 Khoá luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hoàng Kim Thảo GVHD: Th.S Trần Thị Vinh là cơ sở cho việc thiết kế những thủ tục kiểm toán chi tiết trong chương trình kiểm toán sau này.1: Minh hoạ kế hoạch sơ bộ cho các khoản mục được kiểm toán Khoản mục Các nhân tố Đánh giá rủi ro Phương hướng áp làm tăng dụng các kỹ thuật (giảm) rủi ro Tiềm tàng Kiểm soát kiểm toán Doanh thu Mục tiêu doanh X Tìm hiểu về mục tiêu, thu gây sức ép chiến lược và những rủi bất thường lên ro kinh doanh của đơn Giám đốc kinh vị doanh Hàng tồn Kế toán kho X Kiểm tra đối chiếu đơn kho kiêm nhiệm thủ đặt hàng, phiếu xuất kho kho, hoá đơn, vận đơn Khi xác lập các nội dung trên, kiểm toán viên cần xem xét những thay đổi quan trọng trong các lĩnh vực kiểm toán so với năm trước, ảnh hưởng của hệ thống thông tin và những ảnh hưởng của kiểm toán nội bộ (nếu có).” (Kiểm toán, Đại học Kinh tế TP.155) Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, dựa vào rủi ro kiểm toán đã được đánh giá, KTV sẽ tiến hành các thủ tục kiểm toán theo đúng trọng tâm, giảm thiểu được các thủ tục kiểm toán không cần thiết, tiết kiệm thời gian và chi phí. Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán, rủi ro kiểm toán là cơ sở để KTV và công ty kiểm toán soát xét lại hồ sơ kiểm toán và những công việc đã hoàn thành nhằm đảm bảo chất lượng kiểm toán. Các bộ phận của rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: - Rủi ro tiềm tàng.
- Rủi ro kiểm soát. Hai loại rủi ro này có thể gọi chung là rủi ro có sai sót trọng yếu trên các BCTC chưa được kiểm toán, tồn tại do bản chất môi trường kinh doanh, ngành nghề hoạt động cũng như sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị được kiểm toán. 5 Khoá luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hoàng Kim Thảo GVHD: Th.S Trần Thị Vinh - Rủi ro phát hiện: Rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC do KTV không phát hiện ra trong quá trình kiểm toán.2: Rủi ro kiểm toán và các bộ phận rủi ro cấu thành Có sai lầm cụ thể Rủi ro tiềm tàng nào hay không? Có Hệ thống KSNB có phát Rủi ro kiểm soát hiện được hay không? Không KTV phát hiện được bằng Rủi ro phát hiện các thủ tục kiểm toán hay không? Không Rủi ro kiểm toán Ý kiến sai Nguồn: Sách Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế TP. Rủi ro tiềm tàng a.
Khái niệm Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có, do khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát có liên quan (Đoạn 13 VSA 200). Rủi ro tiềm tàng là khả năng có thể có những sai lệch trọng yếu trong BCTC bắt nguồn từ hoạt động, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp hay do bản chất của các khoản mục trước khi xem xét đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộ 6 Khoá luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hoàng Kim Thảo GVHD: Th.S Trần Thị Vinh BCTC. Khi lập chương trình kiểm toán, KTV phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho từng cơ sở dẫn liệu.
Rủi ro tiềm tàng được đánh giá cao hay thấp tuỳ thuộc vào xét đoán của KTV về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro tiềm tàng. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng Ở cấp độ tổng thể BCTC - Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban giám đốc cũng như sự thay đổi thành phần ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán. - Trình độ, kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, nhân viên kế toán chủ yếu, kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ. - Những áp lực bất thường đối với Ban giám đốc, đối với kế toán trưởng, nhất là những hoàn cảnh bắt buộc Ban giám đốc, kế toán trưởng phải trình bày BCTC không trung thực.
- Đặc điểm hoạt động của đơn vị như: quy trình công nghệ, cơ cấu vốn, các đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa.