MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quyền con người và quyền công dân là hai quyền cơ bản nhất của con người và cũng là yếu tố quan trọng trong mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, ở Hiến pháp đã khẳng định rất rõ ràng quyền con người là quyền quan trọng nhất của mỗi công dân. Sự phát triển của lịch sử loài người đã cho thấy sức mạnh to lớn của nhu cầu tự do.
Quyền được nhìn nhận từ góc độ độc lập đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho mọi người, đặc biệt là trong lĩnh vực quyền con người. Đấu tranh chống áp bức, bóc lột, xây dựng thế giới công bằng, xã hội dân chủ, tự do. Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa những tiền đề, điều kiện giải phóng con người gắn liền với sự thay đổi về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, đặc biệt là thiết lập chế độ chính trị với bản chất “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Quyền con người là một thuật ngữ rộng bao gồm các quyền của cá nhân, nhóm, nhóm người và cộng đồng trong xã hội.
Trong đó phụ nữ đại diện cho nhóm người dễ bị tổn thương vì đặc điểm giới tính của họ. Quan trọng nhất, phụ nữ cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt. Tuy nhiên, ở hầu hết các xã hội trên thế giới, phụ nữ thường không nhận được sự quan tâm và bảo vệ đầy đủ từ xã hội và cộng đồng, kể cả từ đầu thế kỷ XX, Liên hợp quốc và các tổ chức kinh tế khác đã ban hành nhiều điều ước quốc tế để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Nước ta căn cứ vào Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước ta, đã quy định về vấn đề bình đẳng giới; tại điều thứ 1: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà, tất cả quyền bình đẳng trong nước là toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; hay tại điều thứ 9: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.
Hiến pháp năm 1946 là tiền đề đầu tiên để Nhà nước ta thiết lập về quyền bình đẳng giới ngày nay. Quyền bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất đai được cụ thể hoá. Xã Mậu Đông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là một trong những xã vùng cao thuộc vùng núi phía Bắc nước ta, xã có diện tích 2. Trên địa bàn xã, người Kinh chiếm tỷ lệ chủ yếu, cùng một số ít đồng bào người Tày và Dao.
Có 1 sinh kế phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp đặc biệt là trồng quế. Xã Mậu Đông có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho sản xuất nông – lâm nghiệp, có thể canh tác hiệu quả các loại cây lương thực như lúa, ngô, sắn; đồng thời có thể phát triển cả cây công nghiệp như cây quế. Tuy vậy, điều kiện tự nhiên của xã cũng đem đến một số khó khăn trở ngại như việc địa hình bị chia cắt khiến sản xuất nông nghiệp tương đối nhỏ lẻ, khó chuyên canh, thâm canh tập trung. Trình độ thâm canh sản xuất chưa cao cũng là trở ngại cho phát triển nông nghiệp của xã.
Trong những năm gần đây, xã dần chú trọng đến kinh tế và cuộc sống cuả người dân ổn định hơn, đặc biệt là nâng cao hiểu biết của người dân trong các lĩnh vực kinh tế xã hội nói chung và lĩnh vực đất đai nói riêng. Quyền của người sử dụng đất nói chung và quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai nói riêng ngày nay đã được ghi nhận theo hướng ngày càng mở rộng và tích cực các quyền không chỉ trong mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước với người sử dụng đất mà là quyền trong quá trình vận hành sử dụng đất trong đời sống thực tế. Mặc dù hiện nay các văn bản pháp lý đều khẳng định sự bình đẳng về địa vị pháp lý giữa nam và nữ, trong lĩnh vực đất đai cũng vậy, pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói chung, không phân biệt nam hay nữ. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi các quy định pháp luật này chưa thực sự đạt hiệu quả.
Ở nhiều địa phương, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau mà vấn đề thực thi quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ đến với đất đai hay quyền của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất vẫn hạn chế hơn so với nam giới. Chẳng hạn về vấn đề đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nam giới đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhiều hơn so với phụ nữ. Xuất phát từ những thực tế trên và nhận thức vai trò và tầm quan trọng của phụ nữ trong đời sống xã hội nói chung cũng như trong lĩnh vực đất đai nói riêng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ trên địa bàn xã Mậu Đông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá nhận thức của người dân trên địa bàn xã Mậu Đông về vấn đề tiếp cận đất đai của phụ nữ.
2 - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao quyền lợi của phụ nữ trong vấn đề sử dụng và quản lý đất. Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phải phán ánh trung thực, khách quan và chính xác công tác quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ trên địa bàn xã Mậu Đông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. - Kết quả nghiên cứu phải đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn. - Đưa ra được những giải pháp có tính khả thi.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về quyền của người sử dụng đất 1. Quyền sử hữu, quyền sở hữu đất đai Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 xác lập quyền tài sản nên tài sản bao gồm ba quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu với luật pháp. Điều 159, Bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền khác đối với tài sản như sau: 1.
Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác. Quyền khác đối với tài sản bao gồm: Quyền đối với bất động sản liền kề; quyền hưởng dụng; quyền bề mặt. Quyền sở hữu là quyền được ghi nhận và bảo vệ của pháp luật đối với một chủ thể. Quyền sở hữu bao gồm 3 quyền năng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Điều 53 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quyền sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều 54 khẳng định: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển của đất nước, được quản lý theo pháp luật…”. Luật Đất đai (Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung 1998, 2001) cũng thể chế hóa chính sách đất đai của Đảng và bổ sung quy định về đất đai của Hiến pháp, xác lập các nguyên tắc quản lý và sử dụng đất đai: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý. Đất đai thống nhất theo quy hoạch và pháp luật, sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo thu hồi, bồi thường đất, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.
Luật Đất đai năm 2003 quy định cụ thể đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu đất, thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai. 4 Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục khẳng định rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước nhân danh chủ sở hữu và quản lý theo phương thức thống nhất, và đặc biệt quy định các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước liên quan đến đất đai, trong đó xác lập các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước liên quan đến đất đai được xác định. Đất đai có 08 quyền với tư cách là đại diện chủ sở hữu tài sản, chẳng hạn như: Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quyết định mục đích sử dụng đất; quy định hạn sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất; quyết định giá đất; quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất; quyết định chính sách tài chính về đất đai; đặt ra các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Với tư cách là cơ quan đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước bảo đảm đất đai được sử dụng theo đúng nguyên tắc và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thông qua việc quản lý đất đai thống nhất trên phạm vi cả nước và bảo vệ lợi ích của Nhà nước.
và các quyền của người sử dụng liên quan đến quyền sở hữu bất động sản, trong đó đất đai bao gồm: - Quyền chiếm hữu về đất đai là một trong ba quyền nằm trong quyền sở hữu đất đai. Nhà nước cho phép người sử dụng được quyền chiếm hữu trên những khu đất, thửa đất cụ thể với thời gian hạn chế, có thể là sử dụng lâu lâu dài nhưng không có nghĩa là sử dụng vĩnh viễn, sự chiếm hữu này chỉ là để sử dụng đất đúng mục đích, dưới các hình thức giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền và cho thuê đất; trong những trường hợp cụ thể này, QSDĐ của Nhà nước và QSDĐ cụ thể của người sử dụng tuy có ý nghĩa khác nhau về cấp độ nhưng đề thống nhất trên từng thửa đất về mục đích sử dụng đất và mức độ hưởng lợi. Về nguyên tắc, Nhà nước điều tiết các nguồn thu từ đất theo quy định của pháp luật về phục vụ cho nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, đồng thời đảm bảo cho người trực tiếp sử dụng đất được hưởng lợi ích từ đất cho chính mình đầu tư mang lại. - Quyền sử dụng đất đai là một trong ba quyền nằm trong quyền sở hữu đất đai.
5 Trong nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện nền kinh tế thị trường. Nhà nước không thể tự mình trực tiếp sử dụng toàn bộ đất đai mà đã trao quyền sử dụng cho người sử dụng đất.