CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÙNG VEN BIỂN XÃ VINH QUANG, HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Điều kiện tự nhiên xã Vinh Quang - Tiên Lãng – Tp. Hải Phòng 1. Vị trí địa lý và các loại hình môi trường ven biển 1.
Vị trí địa lý Xã ven biển Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng: Phía Bắc giáp sông Văn Úc và huyện Kiến Thuỵ; Phía Đông giáp biển Đông khoảng 2,3 km; Phía Nam giáp xã Tiên Hưng; Phía Tây giáp xã Hùng Thắng. Xã Vinh Quang có 14 thôn trong đó có 7 thôn giáp biển là: Chùa Dưới, Chùa Trên, Đông Dưới, Đông Trên, Vam Dưới, Vam Trên và Thái Ninh.1: Vị trí địa lý xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng Sinh viên: Phạm Thị Huệ - Lớp MT1801Q 3 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th. Các loại hình môi trường ven biển Xã ven biển hay gọi là “xã bãi ngang” được bồi đắp bởi phù sa sông Văn Úc và ảnh hưởng bởi sông Thái Bình bao gồm: đất ổn định trong đê và các bãi triều ven biển ngoài đê có RNM. Một mặt tiếp giáp với biển Đông dài khoảng 3,72 km và một mặt giáp với cửa sông Văn Úc dài khoảng 3,78 km nên thường bị ảnh hưởng của sóng biển, triều cường, thuỷ triều, nước biển dâng, bão biển và xâm ngập mặn.
* Thuỷ triều Thuỷ triều theo chế độ nhật triều đều của vùng Bắc Bộ tại đảo Hòn Dáu, Đồ Sơn, Hải Phòng cũng như lưu lượng của sông Thái Bình và sông Văn Úc. Chu kỳ nhật triều trung bình 24 giờ 45 phút, thời gian nước dâng và rút gần bằng nhau (tương ứng là 11 giờ 11 phút). Biên độ dao động đỉnh triều tối đa: 3,0 – 3,5 m, trung bình: 1,7 – 1,9 m và nhỏ nhất: 0,3 – 0,5 m thường xảy ra trong tháng 6 hàng năm. Hàng tháng có hai kỳ nước lớn kéo dài 11 – 13 ngày và hai kỳ nước nhỏ dài 2 – 3 ngày[6].
Sự chênh lệch mực nước thuỷ triều là khoảng 1,3 m so với mức thuỷ triều ở Hòn Dáu. Do vậy, tại xã tồn tại các loại nước ngọt, nước biển và nước lợ. Chất lượng nước cũng bị ảnh hưởng bởi chất lượng nước của hai con sông trên do có nhiều nhà máy, xí nghiệp xả thải ra. * Bãi triều Bãi triều có đất phù sa tuy chưa được nghiên cứu nhưng đủ chất lượng để RNM phát triển tốt.
Các cây bần tuổi đời 20 năm có đường kính gốc khoảng 20 cm và cao khoảng 7 – 8 m. Các bãi triều có xu hướng đang được bồi đắp ra xa, có thể trồng RNM tuy nhiên tỷ lệ sống không cao và thí điểm nuôi trồng hải sản nhuyễn thể như ngao. Diện tích bãi triều và mặt nước ngoài đê khoảng 2000 ha. * Khí hậu Sinh viên: Phạm Thị Huệ - Lớp MT1801Q 4 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Tươi Khí hậu cận nhiệt đới ven biển, 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 – 24oC, nhiệt độ cao nhất khoảng 38 – 39oC trong tháng 8 hàng năm, kỷ lục cao đạt 41oC, nhiệt độ thấp nhất khoảng 21oC, kỷ lục thấp nhất là 6oC trong tháng 1 hàng năm[7]. * Thuỷ hải sản Thuỷ hải sản ven bờ đa dạng gồm: các loài cá, tôm (tôm thẻ chân trắng, tôm sú…), cua, cáy và chim. Các loài thuỷ sản sinh sống trong HST RNM đã được nghiên cứu năm 2011[3]. Thời vụ nuôi trồng tuỳ theo loài hải sản.
Tôm thẻ chân trắng, tôm sú có thể nuôi 2 vụ từ tháng 4 – 6 và từ tháng 8 – 12 hàng năm. Cua nuôi thả quanh năm từ nguồn cua giống người dân bắt tự nhiên tại vùng RNM và bãi triều. Cá nuôi quanh năm… * Các phương thức nuôi trồng thuỷ sản: + Nuôi thâm canh: Là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn bên ngoài (thức ăn viên đơn thuần hay kết hợp với thức ăn tươi sống), thức ăn tự nhiên không quan trọng. Mật độ thả cao (15 - 30 con/m2).
Diện tích đầm nuôi từ 1000 - 1 ha, tối ưu là 5000 m2[8]. + Nuôi quảng canh: Là hình nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn tự nhiên trong đầm. Mật độ thuỷ sản trong đầm thường thấp do dựa hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên. Diện tích đầm nuôi thường lớn để đạt sản lượng cao[8].
+ Nuôi bán thâm canh: Là hình thức nuôi dùng phân bón để gia tăng thức ăn tự nhiên trong trong đầm và bổ sung thức ăn từ bên ngoài như thức ăn tươi sống, cám gạo. giống được thả nuôi ở mật độ tương đối cao (10 - 15 con/m2) trong diện tích ao nuôi nhỏ (2000 - 5000 m2)[8]. Sinh viên: Phạm Thị Huệ - Lớp MT1801Q 5 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Tươi Tuỳ từng điều kiện cụ thể mà ta áp dụng hình thức nuôi như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi hộ. Hiện tại, xã Vinh Quang chưa có phương thức nuôi thâm canh vì không đủ nguồn lực, thiếu kiến thức, thiếu vốn do vốn đầu tư, chi phí cao.
Hệ sinh thái vùng ven biển HST vùng ven biển xã Vinh Quang là HST RNM ven biển và cửa sông Văn Úc gồm khoảng 459,5 ha RNM trên diện tích bãi 459,05 ha quy hoạch hiện tại là đất trồng rừng (44%) trong tổng số diện tích đất sử dụng để trồng RNM 945 ha bãi triều của huyện Tiên Lãng. Diện tích RNM được công nhận là rừng phòng hộ được hưởng kinh phí bảo vệ rừng của nhà nước là 459,5 ha (57%) trong tổng số RNM cả huyện là 809,3 ha (Công văn số 33/UBND-NN huyện Tiên Lãng ngày 10/01/2017). Các loài hải sản nước mặn, lợ như cá biển các loại, cua RNM, cua giống, tôm sú, tôm rảo, còng, cáy, ốc, ngao, hà, hàu, và chim như cò, vạc, vịt trời và chim di cư. Trong số 288 loài sinh vật đã phát hiện trong đó có 7 loài thuộc loài quý hiếm được đưa vào sách đỏ Việt Nam để bảo vệ, gồm các loài: quạ khoang, rắn ráo, rái cá, rắn cạp nong, rắn hổ mang, le khoang cổ.
Vùng RNM và bãi triều ven biển xã Vinh Quang theo chế độ nhật triều đều trong đó phần lớn bãi triều chưa đủ điều kiện để trồng RNM do mực nước thuỷ triều cao hay bãi triều chưa đủ độ cứng, độ cao, sóng biển mạnh để trồng cây. Diện tích này đang được UBND huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang thí điểm để nuôi ngao trên diện tích khoảng 150 ha theo thời hạn 2 năm. Vùng còn lại là vùng cắm đăng, đánh bắt tự do. Tổng diện tích bãi triều ven biển ngoài vùng RNM là khoảng hơn 2000 ha[5].
Chất lượng của sông Văn Úc tác động mạnh đến các HST do các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và các khu công nghiệp nhỏ dọc theo con sông Văn Úc. Để tồn tại và phát triển trên đất ngập mặn ven biển, các loài cây ngập mặn phải có những biến thái thích ứng với điều kiện khắc nghiệt của môi trường sống Sinh viên: Phạm Thị Huệ - Lớp MT1801Q 6 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Tươi là: sóng to, gió lớn, thể nền chưa ổn định, ngập triều, độ mặn. Biểu hiện nổi bật nhất cho hiện tượng biến thái thích ứng của các loài cây ngập mặn là biến thái của quả và bộ rễ, đây là 2 đặc trưng liên quan tới việc đảm bảo khả năng sinh tồn của nòi giống bằng trụ mầm và thích ứng với môi trường đất bùn, ngập nước bằng bộ rễ. Một số loài TVNM thực sự chủ yếu trồng tại vùng ven biển xã Vinh Quang: cây Bần (do đây là vùng bãi triều ngập sâu, sóng mạnh), vùng ven sông có rải rác các cây Mắm trắng và cây Trang.
Kinh tế xã hội xã Vinh Quang – Tiên Lãng – Tp. Hải Phòng * Tình hình dân số và phát triển kinh tế Vinh Quang là xã ven biển lâu đời hình thành từ những năm cuối thế kỷ 19, được thành lập vào năm 1959 và đến năm 1993 một phần nhỏ của xã Vinh Quang được tách ra để thành lập ra xã Tiên Hưng[10]. Đến cuối năm 2016, dân số xã Vinh Quang là khoảng 7.791 người (51% nữ) thuộc 2.304 hộ gia đình bao gồm 112 hộ nghèo (4,86%), 100 hộ cận nghèo (4,34%) còn lại là 2.092 hộ trung bình và khá giả trong đó có trên 137 hộ giàu. Số người trong độ tuổi lao động là 2.
Số người trên 60 tuổi khoảng 23%, số người từ 16 đến 60 tuổi khoảng 62%, số thiếu niên và trẻ em dưới 16 tuổi khoảng 15%[5]. Theo kế hoạch sử dụng đất huyện Tiên Lãng – thành phố Hải Phòng năm 2016, diện tích hành chính xã Vinh Quang là 1.929,58 ha gồm đất nông nghiệp 1.331,22 ha, đất phi nông nghiệp là 595.36 ha và đất chưa sử dụng là 3 ha. Tổng sản phẩm của xã đạt giá trị 348,2 tỷ đồng (2016, tính theo giá thực tế, báo cáo tháng 12/2016) trong đó nông – lâm – ngư nghiệp là 209 tỷ đồng, tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản là 69,2 tỷ đồng và dịch vụ là 70 tỷ đồng. Thu nhập bình quân theo đầu người đạt 31,5 triệu đồng.
Cơ cấu ngành nghề gồm nông nghiệp chiếm 59%; tiểu thủ công nghiệp – xây dựng chiếm 20% và dịch vụ chiếm 21%. Giá trị sản xuất nông nghiệp gồm toàn ngành nông – lâm - thuỷ sản là 209 tỷ đồng trong đó sản lượng nuôi trồng Sinh viên: Phạm Thị Huệ - Lớp MT1801Q 7 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Tươi thuỷ hải sản ước tính là 800 tấn/năm, sản lượng khai thác đánh bắt ước tính là 1. Giá trị kinh tế - xã hội của việc sử dụng các nguồn tài nguyên ven biển. Lợi ích sinh kế hỗ trợ bởi rừng ngập mặn UBND các cấp đại diện là cấp xã, huyện là người sở hữu toàn bộ đất và rừng, bãi triều ven biển.
Chỉ có đất đầm nuôi trồng hải sản là quyền sử dụng được giao theo hợp đồng thuê đất kinh tế. UBND huyện đang tiến hành chuyển từ hợp đồng giao đất sang hợp đồng cho thuê đất thống nhất với một số thách thức cần được người dân hiểu và đồng thuận. Các cánh RNM đã giao cho các hộ chăm sóc và bảo vệ thì có quyền và nghĩa vụ cũng cần được công khai vì các hộ dân khác trong và ngoài xã vẫn khai thác trong các cánh rừng đó để mọi người hiểu và cùng nhau khai thác bền vững, tránh những xung đột, tranh chấp không đáng có. Nguồn thuỷ hải sản tại bãi triều vẫn có thể theo xu hướng giảm đi trong khi hàng trăm hộ gia đình sống phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn lợi này.1: Các lợi ích sinh kế hỗ trợ bởi rừng ngập mặn[5].