Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vùng dải ven biển Việt Nam dài khoảng 3.260 km, giữ vai trò huyết mạch trong phát triển kinh tế - xã hội, nơi tập trung khoảng 45% dân số cả nước. Thành phố Hải Phòng với chiều dài bờ biển 125 km sở hữu hệ sinh thái cửa sông, ven biển đa dạng, nhưng đang đối mặt với bài toán phát triển nhanh gắn liền với tính bền vững. Vinh Quang là một xã bãi ngang thuộc huyện Tiên Lãng, nằm ở phía nam thành phố Hải Phòng, giáp cửa sông Văn Úc và biển Đông. Đây là khu vực có tốc độ bồi tụ phù sa mạnh mẽ, sở hữu diện tích rừng ngập mặn (RNM) và bãi triều rộng lớn, cung cấp sinh kế trực tiếp cho hàng trăm hộ dân thông qua các hoạt động khai thác thủ công, đánh bắt thủy hải sản bằng thuyền và nuôi trồng thủy sản.

Tuy nhiên, áp lực phát triển kinh tế từ thập niên 1990 đã dẫn đến tình trạng chuyển đổi đất rừng sang đầm nuôi tôm tự phát, gây suy giảm diện tích rừng ngập mặn tự nhiên. Công tác quản lý tài nguyên ven biển còn bộc lộ nhiều bất cập: tranh chấp bãi triều, cơ chế giao khoán và cho thuê đất đầm chưa đồng bộ, tình trạng đánh bắt tận diệt bằng ngư cụ mắt lưới nhỏ làm cạn kiệt nguồn lợi sinh vật, cùng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước từ thượng lưu sông Văn Úc. Xuất phát từ thực trạng đó, khóa luận thực hiện việc đánh giá toàn diện hiện trạng sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên ven biển tại địa bàn xã Vinh Quang.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên vùng ven biển xã Vinh Quang.
  2. Tìm hiểu và phân tích hiện trạng sử dụng các nguồn tài nguyên ven biển (rừng ngập mặn, bãi triều, mặt nước nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản) tại xã Vinh Quang.
  3. Tìm hiểu và phân tích hiện trạng quản lý các nguồn tài nguyên ven biển xã Vinh Quang từ góc độ chính quyền và cộng đồng.
  4. Đánh giá tổng hợp hiện trạng sử dụng, quản lý và đề xuất các giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững các nguồn tài nguyên ven biển khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nguồn tài nguyên ven biển bao gồm hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều, mặt nước ven bờ, nguồn lợi thủy hải sản tự nhiên và các đầm nuôi trồng thủy sản; cùng hệ thống thể chế, cơ chế quản lý và quyền sử dụng các nguồn tài nguyên này.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng (diện tích tự nhiên 1.929,58 ha, bao gồm 14 thôn với 7 thôn tiếp giáp biển: Chùa Dưới, Chùa Trên, Đông Dưới, Đông Trên, Vam Dưới, Vam Trên, Thái Ninh; bờ biển dài khoảng 3,72 km và bờ cửa sông Văn Úc dài 3,78 km).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu lịch sử giai đoạn 1990–2010 kết hợp số liệu điều tra, thống kê và khảo sát thực địa tập trung từ năm 2011 đến năm 2016–2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên khung lý thuyết định giá hệ sinh thái và quản lý tài nguyên ven biển có sự tham gia của cộng đồng:

  • Khung phân loại giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn: Hệ thống hóa thành ba nhóm giá trị: Nhóm giá trị sử dụng trực tiếp (thực phẩm, thủy hải sản, lâm sản, dược liệu, du lịch, mật ong); Nhóm giá trị sử dụng gián tiếp (chắn sóng bảo vệ bờ biển và đê điều, bồi tụ lắng đọng phù sa, cố định carbon giảm khí nhà kính, nơi cư trú và bãi đẻ của thủy sản); Nhóm giá trị chưa sử dụng (tiềm năng dược liệu, bảo tồn nguồn gen đa dạng sinh học trong tương lai).
  • Phân loại phương thức nuôi trồng thủy sản: Định nghĩa kỹ thuật về 3 phương thức: Nuôi thâm canh (dựa hoàn toàn vào thức ăn nhân tạo, mật độ 15–30 con/m², diện tích 1.000–5.000 m²); Nuôi bán thâm canh (kết hợp bón phân gây màu nước và thức ăn bổ sung, mật độ 10–15 con/m², diện tích 2.000–5.000 m²); Nuôi quảng canh (dựa hoàn toàn vào thức ăn và con giống tự nhiên theo triều cường, diện tích đầm lớn).
  • Cơ sở pháp lý: Luật Quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Nghị định số 40/2016/NĐ-CP quy định phân cấp quản lý vùng ven bờ (huyện quản lý từ mép triều kiệt nhiều năm ra 3 km; vùng ngoài do thành phố quản lý); Chương trình trồng rừng 327; Kế hoạch sử dụng đất huyện Tiên Lãng năm 2016 phê duyệt theo Quyết định số 93/QĐ-UBND (và Quyết định 493/QĐ-UBND) của UBND TP Hải Phòng; Công văn số 33/UBND-NN ngày 10/01/2017 của UBND huyện Tiên Lãng về kinh phí bảo vệ rừng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu khí tượng, thủy văn từ trạm Hòn Dáu; báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Vinh Quang (2016); dữ liệu diện tích và kiểm kê rừng của Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng và Phòng NN&PTNT huyện Tiên Lãng; dữ liệu các dự án trồng rừng của Tổ chức Hành động và Phục hồi Rừng ngập mặn Nhật Bản (Actmang), Dự án Rừng và Đồng bằng (VFD/USAID).
  • Phương pháp đánh giá tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng (PCRA): Tiếp cận thông tin thông qua hội thảo tham vấn cộng đồng ngày 11–12/05/2017 tại xã Vinh Quang.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực địa: Sử dụng bảng hỏi phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp trên 4 nhóm đối tượng:
    • Nhóm khai thác thủ công bằng tay trong rừng ngập mặn: Khảo sát mẫu $n = 47$ người.
    • Nhóm khai thác đánh bắt bằng thuyền trên bãi triều, mặt nước ven bờ: Khảo sát mẫu $n = 56$ hộ (trong tổng số khoảng 176 hộ có thuyền của xã).
    • Nhóm hộ sử dụng đầm nuôi trồng thủy hải sản: Khảo sát mẫu $n = 85$ hộ (quản lý diện tích 374,69 ha).
    • Nhóm đánh giá chất lượng hiện trạng rừng, bãi triều, đầm nuôi: Lấy ý kiến đánh giá từ $n = 22$ đến $n = 32$ hộ dân theo thang đo mức độ (Rất tốt, Tốt, Trung bình, Kém).
  • Phương pháp thống kê, xử lý và tổng hợp số liệu: Sử dụng tỷ lệ phần trăm, giá trị bình quân, lập bảng đối chiếu chéo và xây dựng biểu đồ cơ cấu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan vùng ven biển xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng

Chương I trình bày hệ thống các điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế - xã hội và đánh giá toàn diện các giá trị kinh tế của hệ sinh thái ven biển xã Vinh Quang:

  • Điều kiện tự nhiên và hải văn: Xã có chế độ nhật triều đều Bắc Bộ (chu kỳ trung bình 24 giờ 45 phút, thời gian triều lên và triều rút tương đương 11 giờ 11 phút). Biên độ đỉnh triều cực đại đạt 3,0–3,5 m, trung bình 1,7–1,9 m, thấp nhất 0,3–0,5 m (thường vào tháng 6). Mỗi tháng có 2 kỳ nước lớn (11–13 ngày) và 2 kỳ nước kém (2–3 ngày). Nhiệt độ trung bình năm 23–24°C, cao nhất 38–39°C (kỷ lục 41°C), thấp nhất 21°C (kỷ lục 6°C).
  • Đặc điểm sinh thái: Ghi nhận 288 loài sinh vật, trong đó có 7 loài quý hiếm thuộc Sách Đỏ Việt Nam (quạ khoang, rắn ráo, rái cá, rắn cạp nong, rắn hổ mang, le khoang cổ). Thảm thực vật ngập mặn ưu thế tuyệt đối là Bần chua (Sonneratia caseolaris), phân bố rải rác có Mắm trắng (Avicennia alba) và Trang (Kandelia obovata).
  • Hiện trạng kinh tế - xã hội (năm 2016): Toàn xã có 7.791 nhân khẩu, 2.304 hộ gia đình (112 hộ nghèo chiếm 4,86%, 100 hộ cận nghèo chiếm 4,34%). Tổng giá trị sản phẩm đạt 348,2 tỷ đồng, cơ cấu ngành: nông - lâm - thủy sản chiếm 59% (209 tỷ đồng), tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 20% (69,2 tỷ đồng), dịch vụ chiếm 21% (70 tỷ đồng). Thu nhập bình quân đầu người đạt 31,5 triệu đồng/năm.
Nhóm sinh kế nhờ RNM Năng suất / Định mức khai thác Giá trị kinh tế ước tính Quy mô đối tượng hưởng lợi
Đầm nuôi quảng canh Tôm rảo 100 kg, cua 50 kg, tép 200 kg, cá 300 kg/ha/năm 54 triệu đồng/ha/năm 150 hộ (khoảng 600 nhân khẩu)
Bắt cáy thủ công 2 kg/ngày × 20 ngày/tháng × 6 tháng = 240 kg/năm/người 12 triệu đồng/năm/người 100–105 người
Bắt tôm bằng tay 1 kg/ngày × 10 ngày/tháng × 3 tháng = 30 kg/năm/người 2,25 triệu đồng/năm/người 300 người
Bắt ngao, hến 10 kg/ngày × 12 ngày = 120 kg/người/năm 840.000 đồng/năm/người 300 người
Bắt cua thủ công 10 con/ngày × 15 ngày/tháng × 3 tháng = 450 con/năm 3,15 triệu đồng/năm/người 300 người
Khai thác rươi 4 ngày/năm × 10 kg/ngày = 40 kg/ha/năm 12 triệu đồng/ha/năm 15–20 hộ (bình quân 3 ha/hộ)
Nuôi ong mật 5 lít mật/ha RNM (giá từ 300.000 đồng/lít) 1 triệu đồng/ha (trên 443 ha) 2 hộ tại xã và các đàn di động
Cắm đăng, đó 5 kg/ngày × 20 ngày/tháng × 5 tháng 30 triệu đồng/hộ/năm 5–10 hộ
Đánh bắt bằng thuyền 5 kg/ngày × 20 ngày/tháng × 10 tháng 50 triệu đồng/thuyền/năm 176 hộ có thuyền

Bên cạnh đó, chương I xác lập danh mục thực vật ngập mặn có giá trị dược liệu tại xã gồm: Đâng/Đước vòi (Rhizophora stylosa - chữa bỏng, vết thương), Ô rô biển (Acanthus ilicifolius - chữa vàng da), Vạng hôi (Clerodendron inerme - chữa tiêu chảy, kiết lỵ), Muống biển (Ipomoea-pes-caprae - giảm sốt, đau đầu).

Chương II: Hiện trạng sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên ven biển xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng

Chương II tập trung phân tích sâu hiện trạng khai thác và cơ chế quản lý trên 3 phân vùng tài nguyên:

1. Hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn

  • Diện tích và phân bố: Diện tích đất quy hoạch rừng phòng hộ là 459,05 ha; diện tích rừng ngập mặn thực tế được công nhận và nhận kinh phí bảo vệ là 459,5 ha (chiếm 57% diện tích rừng phòng hộ toàn huyện Tiên Lãng).
  • Lịch sử biến động và trồng phục hồi: Giai đoạn 2000–2006, phần lớn rừng trồng theo Chương trình 327 và Hội Chữ thập đỏ bị phá để làm đầm tôm. Sau năm 2006, huyện áp dụng cơ chế giao khoán bảo vệ rừng. Từ 1996–2009, tổ chức Actmang (Nhật Bản) hỗ trợ trồng phục hồi Bần chua tại Tiên Lãng; tại Vinh Quang giai đoạn 1996–2010 trồng 719,5 ha; giai đoạn 2011–2016 trồng 170 ha (trong đó có 30 ha người dân tự trồng). Tỷ lệ sống trung bình của rừng trồng mới đạt 51% do cây non bị hà bám, rác thải quấn, sóng lớn và ngập triều.
  • Đánh giá của người dân về RNM: Khảo sát 22 hộ cho thấy 23% đánh giá Rất tốt, 73% đánh giá Tốt (tổng 96% đánh giá tích cực do rừng trên 20 năm phát triển dày, bảo vệ được hơn 7 km đê biển 3 trong suốt 11 năm 2005–2016 không bị sạt lở), 4% đánh giá Trung bình do vẫn còn tình trạng chặt tỉa nhỏ lẻ.
  • Hoạt động khai thác thủ công: Khảo sát $n = 47$ người đánh bắt bằng tay (79% người trong xã, 21% người ngoài xã):
    • Số ngày đi khai thác: 60% đi 16–20 ngày/tháng; 13% đi 10–15 ngày; 11% đi 22–25 ngày; 8% đi 26–30 ngày; 8% đi 5–6 ngày.
    • Sản lượng: 49% đạt 3–5 kg/ngày (bắt cáy bằng tay); 32% đạt 0,5–2,5 kg/ngày; 11% đạt 6–20 kg/ngày; 6% đạt 10–20 kg/ngày; 2% đạt tới 60 kg/ngày (cắm đăng).
    • Cơ cấu đối tượng khai thác: 87% tập trung bắt cáy, còng, rạm (sản lượng nhóm này đạt 116 kg/ngày). Tổng sản lượng khai thác thủ công của 47 người là 261,6 kg/ngày. Mục đích khai thác: 53% bán lấy thu nhập chính, 30% vừa bán vừa dùng cho gia đình, 17% chỉ dùng cho gia đình.

2. Hiện trạng bãi triều và khai thác ven bờ

  • Diện tích bãi triều: Khoảng hơn 2.000 ha mặt nước và bãi bồi ngoài đê. Đang thí điểm quy hoạch 150 ha nuôi ngao (thời hạn 2 năm) cho 5 hộ: Nguyễn Văn Phú, Vũ Văn Huy, Vũ Văn Dư, Nguyễn Văn Tuân, Nguyễn Văn Huy (mỗi hộ tạm giao 30 ha).
  • Đánh giá của người dân về bãi triều ($n = 25$ hộ): 16% Rất tốt, 8% Tốt, 44% Trung bình (mặt bằng thấp, khó trồng cây, xung đột nghề khai thác), 32% Kém (diện tích trồng rừng mới chết nhiều do sóng và tàu thuyền chèn ép).
  • Hoạt động đánh bắt bằng thuyền: Xã có 176 hộ có thuyền. Điều tra chọn mẫu $n = 56$ hộ (54 hộ trong xã chiếm 96%, 2 hộ ngoài xã chiếm 4%):
    • Quy mô phương tiện: 51 hộ có 1 thuyền (91%), 4 hộ có 2 thuyền (7%), 1 hộ có 6 thuyền (2%). Công suất máy từ 6 HP đến 110 HP (nhiều nhất là dải 6–10 HP và 24–35 HP). Số lượng tay lưới từ 2 đến 280 lưới/thuyền.
    • Thu nhập và sản lượng: Sản lượng trung bình 36–48 kg/lượt. Thu nhập phổ biến từ 500.000 đồng/ngày (25 thuyền) và từ 150.000 đồng/ngày (19 thuyền); cá biệt có thuyền lớn đạt 2–10 triệu đồng/ngày.
    • Suy giảm nguồn lợi: 95% chủ thuyền khẳng định sản lượng hải sản tự nhiên đang suy giảm nghiêm trọng do diện tích bãi bị thu hẹp, nước sông Văn Úc ô nhiễm do chất thải công nghiệp và phương thức đánh bắt cạn kiệt (mắt lưới quá nhỏ, đăng rọ dày đặc không cho hải sản non phục hồi).

3. Hiện trạng nuôi trồng thủy hải sản

  • Quy mô và phương thức: Diện tích quy hoạch ổn định ở mức 365,34 ha; điều tra $n = 85$ hộ đang canh tác trên 374,69 ha. Trong đó, 61 hộ trong xã quản lý 256,99 ha (69% diện tích); 15 hộ ngoài xã quản lý 95,9 ha (25% diện tích); 9 hộ không rõ quản lý 21,8 ha (6% diện tích).
  • Phương thức nuôi: Chủ yếu là nuôi quảng canh và bán thâm canh các loài tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua, cá, rươi, tép; hoàn toàn không có mô hình nuôi thâm canh do người dân thiếu vốn, rủi ro dịch bệnh cao và thiếu kỹ thuật.
  • Lao động và hiệu quả tài chính: 85 hộ sử dụng 223 lao động thường xuyên (35% nữ) và giải quyết khoảng 800 việc làm mùa vụ. Năm 2016, tổng vốn đầu tư của các hộ đạt 13,72 tỷ đồng; tổng lợi nhuận thu về khoảng 10 tỷ đồng. Tỷ lệ sinh lời: 86% số hộ có lãi (tối thiểu từ 5 triệu đồng trở lên), 10% hộ bị lỗ hoặc hòa vốn (có hộ lỗ nặng 230 triệu đồng), 4% không phản hồi. Về tiêu thụ: 53% bán cho thương lái trong xã, 23% bán kết hợp trong và ngoài xã, 19% bán cho thương lái ngoài xã, chỉ 2% bán trực tiếp cho các công ty chế biến.
  • Đánh giá hiện trạng đầm ($n = 32$ hộ): 25% đánh giá Tốt; 72% đánh giá Trung bình (do ô nhiễm nguồn nước, độ mặn bấp bênh, biến đổi thời tiết, thiếu chủ động con giống); 3% đánh giá Kém.
Phân vùng tài nguyên Quy mô diện tích Hoạt động khai thác / Sử dụng chính Số liệu kinh tế - kỹ thuật đặc trưng Vấn đề tồn tại chính
Rừng ngập mặn 459,5 ha rừng phòng hộ Bảo vệ bờ biển; khai thác thủ công (bắt cáy, cua, tôm, cắm đăng); nuôi ong mật. Tỷ lệ sống rừng trồng mới đạt 51%; 60% người bắt cáy đi 16–20 ngày/tháng; sản lượng cáy 116 kg/ngày. Tỷ lệ sống cây trồng dặm thấp; còn hiện tượng chặt tỉa củi nhỏ lẻ.
Bãi triều & Mặt nước > 2.000 ha (150 ha thí điểm nuôi ngao) Đánh bắt bằng thuyền động cơ (6–110 HP); cắm đăng, lưới lồng; nuôi ngao vây cọc. 176 hộ có thuyền; sản lượng 36–48 kg/lượt; thu nhập phổ biến 150.000–500.000 đ/ngày. 95% ý kiến phản ánh nguồn lợi cạn kiệt; quy định mắt lưới chưa nghiêm; ô nhiễm nước sông.
Đầm nuôi thủy sản 365,34 ha quy hoạch (thực tế 374,69 ha) Nuôi quảng canh và bán thâm canh (tôm sú, tôm thẻ, cua, cá, rươi). 85 hộ khảo sát; vốn đầu tư 13,72 tỷ đồng; lãi 10 tỷ đồng; 86% hộ có lãi; 223 lao động thường xuyên. Thiếu vốn và kỹ thuật thâm canh; ô nhiễm nguồn nước; hợp đồng thuê đất chưa đồng bộ.

Chương III: Một số giải pháp bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên ven biển xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp quản lý:

  • Đối với các cấp chính quyền:
    • Hoàn thiện quy hoạch phân vùng sử dụng đất và mặt nước ven biển; giải quyết dứt điểm các vướng mắc trong việc chuyển đổi hợp đồng giao đất sang hợp đồng cho thuê đất kinh tế, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ minh bạch cho các hộ nuôi đầm.
    • Tăng cường kiểm tra, thực thi nghiêm ngặt các quy định về ngư cụ, quy định kích thước mắt lưới tối thiểu và cấm các hình thức đánh bắt tận diệt trong vùng rừng và bãi triều.
    • Đầu tư hạ tầng xử lý nước thải, kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả thải từ các nhà máy, xí nghiệp dọc lưu vực sông Văn Úc và sông Thái Bình.
    • Hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi, chuyển giao kỹ thuật nuôi bán thâm canh và cung ứng nguồn giống sạch bệnh cho các hộ nuôi đầm.
  • Đối với người dân địa phương:
    • Nâng cao ý thức bảo vệ cây rừng ngập mặn; chấm dứt tình trạng chặt phá cây non khi đi khai thác thủy sản; tích cực tham gia trồng dặm phục hồi rừng.
    • Tuân thủ lịch mùa vụ và thời gian ngừng khai thác để nguồn lợi thủy sản non kịp sinh trưởng; không sử dụng lưới mắt nhỏ hoặc hóa chất đánh bắt.
    • Tăng cường liên kết giữa các nhóm hộ nuôi đầm và nhóm hộ đánh bắt thuyền nhằm chia sẻ thông tin thị trường, tránh bị ép giá.
  • Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa chính quyền và người dân (Đồng quản lý): Xây dựng quy chế đồng quản lý tài nguyên ven biển có sự tham gia của Đồn Biên phòng đóng trên địa bàn, UBND xã và các tổ tự quản cộng đồng thôn xóm; công khai quyền và nghĩa vụ bảo vệ các cánh rừng giao khoán để tránh xung đột quyền lợi giữa người bảo vệ và người khai thác tự do.

Chương IV: Kết luận và kiến nghị

Chương IV tổng kết lại toàn bộ kết quả khảo sát, khẳng định vai trò then chốt của hệ sinh thái ven biển đối với sinh kế nhân dân xã Vinh Quang và gửi kiến nghị lên UBND huyện Tiên Lãng, UBND thành phố Hải Phòng sớm phê duyệt quy hoạch chi tiết vùng nuôi ngao bãi triều, ổn định cơ chế thuê đất đầm và tiếp tục huy động các nguồn tài trợ quốc tế (như Actmang, USAID) để mở rộng diện tích rừng ngập mặn phòng hộ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với số liệu điều tra thực địa:

  • Lượng hóa chi tiết cơ cấu sử dụng đất và tài nguyên ven biển: Xác định chính xác 459,5 ha rừng ngập mặn phòng hộ đạt chuẩn bảo vệ (chiếm 57% diện tích rừng phòng hộ toàn huyện Tiên Lãng); 374,69 ha diện tích đầm nuôi thủy sản thực tế do 85 hộ quản lý; và 150 ha bãi triều đang thí điểm nuôi ngao cho 5 nhóm hộ.
  • Thống kê bức tranh kinh tế sinh kế ven biển: Chứng minh hoạt động nuôi đầm quảng canh đạt doanh thu 54 triệu đồng/ha/năm; nghề bắt cáy thủ công mang lại 12 triệu đồng/năm/người cho khoảng hơn 100 lao động; 86% hộ nuôi đầm có lãi trong năm 2016 với tổng lợi nhuận toàn nhóm khảo sát đạt khoảng 10 tỷ đồng trên tổng vốn đầu tư 13,72 tỷ đồng.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn quản lý: Khóa luận ghi nhận tỷ lệ sống của rừng trồng mới chỉ đạt 51%; 95% chủ thuyền đánh cá phản ánh suy giảm sản lượng; phát hiện sự thiếu đồng bộ trong quản lý hợp đồng thuê đất đầm giữa cấp xã và cấp huyện; xung đột không gian giữa vùng trồng rừng, vùng thí điểm nuôi ngao và luồng tàu thuyền đánh bắt.
  • Đóng góp của nghiên cứu: Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu sơ cấp hoàn chỉnh, chân thực về hiện trạng sử dụng và quản lý tài nguyên ven biển xã Vinh Quang năm 2016–2018; làm tài liệu tham khảo thực tiễn trực tiếp cho công tác quản lý tài nguyên môi trường của UBND xã Vinh Quang và Phòng NN&PTNT huyện Tiên Lãng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả chỉ ra công tác trồng rừng ngập mặn mới tại các bãi bồi ngoài xa gặp nhiều khó khăn tự nhiên (ngập triều sâu, sóng lớn, hà bám) dẫn đến tỷ lệ sống chưa cao (51%); nghiên cứu chưa phân tích sâu các chỉ tiêu hóa lý mẫu nước và trầm tích bãi triều do giới hạn nguồn lực; số liệu đầm nuôi thâm canh chưa có do địa phương chưa phát triển hình thức này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá chất lượng môi trường nước mặt sông Văn Úc tác động đến bãi triều; nghiên cứu thực nghiệm các giải pháp kỹ thuật nâng cao tỷ lệ sống của cây ngập mặn trên bãi bồi thấp; xây dựng mô hình lượng giá kinh tế tổng hợp (Total Economic Value - TEV) đầy đủ cho hệ sinh thái RNM xã Vinh Quang.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế Thủy sản: Tham khảo phương pháp xây dựng bảng hỏi điều tra xã hội học, phương pháp đánh giá tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng (PCRA), và cách phân tích cấu trúc kinh tế sinh kế vùng ven biển.
  • Cán bộ quản lý địa phương: UBND xã Vinh Quang, UBND huyện Tiên Lãng, Chi cục Kiểm lâm và Ban Quản lý rừng phòng hộ thành phố Hải Phòng có thể sử dụng các số liệu về cơ cấu thuyền bè, diện tích đầm nuôi, tỷ lệ phân bố dân cư trong/ngoài xã và các ý kiến phản hồi của cộng đồng để điều chỉnh quy hoạch, ban hành cơ chế cho thuê đất đầm và thiết lập các trạm kiểm soát ngư cụ phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Diện tích rừng ngập mặn phòng hộ được công nhận và bảo vệ tại xã Vinh Quang là bao nhiêu và chiếm tỷ lệ thế nào so với toàn huyện Tiên Lãng?
Diện tích rừng ngập mặn được công nhận là rừng phòng hộ và được hưởng kinh phí bảo vệ của Nhà nước tại xã Vinh Quang là 459,5 ha, chiếm 57% trong tổng số 809,3 ha rừng phòng hộ của toàn huyện Tiên Lãng (theo Công văn số 33/UBND-NN ngày 10/01/2017).

2. Tỷ lệ sống trung bình của các dự án trồng phục hồi rừng ngập mặn giai đoạn 1996–2016 tại xã Vinh Quang đạt bao nhiêu phần trăm?
Theo thống kê các chương trình trồng rừng do tổ chức Actmang và các dự án tài trợ, tỷ lệ sống của cây ngập mặn trồng mới tại xã Vinh Quang ở cả hai giai đoạn 1996–2010 (trồng 719,5 ha) và giai đoạn 2011–2016 (trồng 170 ha) đều duy trì ở mức 51%.

3. Hoạt động nuôi đầm thủy sản tại xã Vinh Quang năm 2016 có quy mô vốn đầu tư và hiệu quả sinh lời thực tế như thế nào?
Khảo sát 85 hộ nuôi đầm (quản lý 374,69 ha) cho thấy tổng số tiền đầu tư trong năm 2016 là khoảng 13,72 tỷ đồng; tổng lợi nhuận đạt khoảng 10 tỷ đồng. Có 86% số hộ có lãi từ 5 triệu đồng trở lên, 10% hộ bị lỗ hoặc không có lãi (mức lỗ cao nhất ghi nhận là 230 triệu đồng), và 4% hộ không trả lời.

4. Khảo sát nhóm ngư dân đánh bắt bằng thuyền ghi nhận tỷ lệ phản ánh về sự suy giảm nguồn lợi thủy sản ra sao và nguyên nhân do đâu?
Có tới 95% số người dân khai thác bằng thuyền được phỏng vấn cho rằng sản lượng thủy hải sản đang giảm dần. Nguyên nhân được người dân chỉ ra gồm: khu vực đánh bắt bị thu hẹp, môi trường nước sông Văn Úc bị xả thải ô nhiễm, thời tiết thay đổi và phương thức khai thác mang tính tận diệt (sử dụng mắt lưới quá nhỏ, cắm đăng quá dày không có thời gian cho hải sản non lớn).

5. Mô hình thí điểm nuôi ngao trên bãi triều xã Vinh Quang được triển khai với quy mô và thời hạn như thế nào?
Địa phương đã tạm giao thí điểm diện tích 150 ha bãi triều ngoài đê trong thời hạn 2 năm cho 5 hộ gia đình (Nguyễn Văn Phú, Vũ Văn Huy, Vũ Văn Dư, Nguyễn Văn Tuân và Nguyễn Văn Huy), bình quân mỗi hộ nhận 30 ha để dựng chòi canh, cắm cọc vây lưới và thả giống.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thị Huệ đã phản ánh một cách chân thực, chi tiết và có hệ thống hiện trạng sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên ven biển tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Thông qua hệ thống dữ liệu điều tra thực địa trên 47 người khai thác thủ công, 56 hộ thuyền chài và 85 hộ nuôi đầm, công trình đã làm rõ các đóng góp to lớn của hệ sinh thái rừng ngập mặn và bãi triều đối với sinh kế cộng đồng, đồng thời chỉ ra những bất cập về tỷ lệ sống của rừng trồng mới, suy giảm nguồn lợi thủy sản và vướng mắc thể chế cho thuê đất. Các giải pháp quản lý được đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho định hướng phát triển bền vững dải ven biển huyện Tiên Lãng.