Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia trên thế giới, là điều kiện tồn tại, phát triển của con ngƣời và các sinh vật khác trên trái đất. Vấn đề sử dụng đất đai nhƣ thế nào cho có hiệu quả cao nhất, phân bố đất đai vào những phƣơng án sử dụng đất nhƣ nào để mang lại lợi ích lớn nhất cho xã hội là một vấn đề đƣợc đặt ra cho tất cả các nƣớc. Bên cạnh việc cải tạo, sử dụng đất đai hợp lí và có hiệu quả thì vẫn còn một số tác động làm ảnh hƣởng đến mội trƣờng đất. Do đó, yêu cầu quản lí chặt chẽ và sử dụng đất đai hợp lí để phát huy tác dụng tích cực và làm giảm những tác động tiêu cực đến đất trở nên hết sức cần thiết.
Quá trình công nghiệp hóa (CNH), ĐTH gây áp lực lên công tác quản lý SDĐ. Quy hoạch SDĐ thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán. Việc ngƣời dân không đồng tình với các chính sách thu hồi, bồi thƣờng, hỗ trợ tái định cƣ quỹ đất của phƣờng làm cho việc ĐTH trở nên khó khăn nhất là trong công tác QLĐĐ ngày càng trở nên phức tạp Hiện tại do quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa đẩy nhanh nên gây đã áp lực lên công tác quản lí sử dụng đất tại địa bàn. Quy hoạch sử dụng đất còn nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ và nhất quán, gặp nhiều khó khăn trong công tác giải quyết mặt bằng, việc làm cho ngƣời dân sau khi bị thu hồi đất.
Mặc dù đã đạt mục tiêu đô thị loại I với nhiều dự án chỉnh trang đô thị, cơ sở hạ tầng xã hội, tuy nhiên theo lãnh đạo thành phố Biên Hòa việc mức sống của ngƣời dân vẫn chƣa đƣợc cao và còn gặp nhiều vấn đề trong việc bảo vệ môi trƣờng xanh, sạch, đẹp. Từ đó, tôi chọn đề tài sau làm khóa luận tốt nghiệp: “ Đánh giá hiện trạng công tác quản lí đất đai trong quá trình đô thị hóa tại phường Tân Hiệp Thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai ” nhằm giải quyết đƣợc công tác quản lí đất đai trong quá trình đô thị hóa. Mục tiêu của đề tài 2. Mục tiêu tổng quát 1 Đề tài nhằm đánh giá công tác quản lí đất đai trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn phƣờng Tân Hiệp TP.Biên Hòa tỉnh Đồng Nai, từ đó tìm ra những khó khăn hạn chế trong công tác quản lí đất trên địa bàn để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác này cho TP.Biên Hòa tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá công tác quản lý đất đai trong quá trình đô thị hóa, thực thi pháp luật về đất đai tại phƣờng Tân Hiệp Thành phố Biên Hòa. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai tại Thành phố Biên Hòa 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đô thị hóa 1. Khái niệm về đô thị hóa Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng.
Đô thị hóa cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì đô thị hóa còn đƣợc gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, là tốc độ đô thị hóa. Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lƣợng cuộc sống,. Theo khái niệm của địa lí học, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cƣ hoặc thƣơng mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian, các quá trình đô thị hóa có thể bao gồm: - Sự gia tăng tự nhiên của dân cƣ hiện có.
Thông thƣờng, quá trình này không phải là tác nhân chính vì mức độ tăng trƣởng dân cƣ tự nhiên của thành phố thƣờng thấp hơn nông thôn. - Sự chuyển dịch dân cƣ từ nông thôn ra thành thị, hoặc là sự nhập cƣ vào đô thị của dân cƣ nông thôn. - Sự kết hợp của các yếu tố trên. Phân loại và các đặc trưng của quá trình đô thị hóa Quá trình đô thị hóa trên thế giới có thể phân chia làm 2 loại bao gồm: Quá trình đô thị hóa ở các nƣớc phát triển: đặc trƣng cho sự phát triển này là nhân tố chiều sâu và sự tận dụng tối đa những lợi ích, hạn chế những ảnh hƣởng xấu của quá trình đô thị hóa.
Đô thị hóa diễn ra do nhu cầu công nghiệp phát triển mang tính tự nhiên Quá trình đô thị hóa (ĐTH) ở các nƣớc đang phát triển: có đặc trƣng là ĐTH không đi đôi với công nghiệp hóa (CNH) (trừ một số nƣớc công nghiệp mới - NIC). 3 Sự bùng nổ dân số đô thị quá tải không mang tính tự nhiên mà do sức hấp dẫn từ sự cách biệt sâu sắc về chất lƣợng cuộc sống giữa đô thị và nông thôn. Đô thị hóa ở Việt Nam đƣợc chia thành 6 loại: - Loại đặc biệt: Là thành phố trực thuộc Trung Ƣơng có các Quận nôi thành, Quận ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị đặc biệt đa chức năng, với quy mô dân số 5 triệu ngƣời trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành 15000 ngƣời/km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trên 90% tổng số lao động.
- Đô thị loại I: Là thành phố trực thuộc Trung Ƣơng có các Quận nôi thành, Quận ngoại thành, có thể có các đô thị trực thuộc với quy mô dân số từ 1 triệu ngƣời trở lên, mật độ dân số tối thiểu là 12000 ngƣời/km2. Đô thị loại I là đô thị thuộc tỉnh có các phƣờng nội thành, các xã ngoại thành với quy mô dân số từ 500000 ngƣời trở lên, mật độ dân số từ 10000 ngƣời/km2. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trên đô thị loại I phải trên 85% - Đô thị loại II: Có tỉ lệ lao động phi nông nghiệp phải từ 80% trở lên. Nếu là đô thị trực thuộc Trung Ƣơng thì quy mô dân số từ 800000 ngƣời trở lên, mật độ dân số trên 10000 ngƣời/km2.
Đô thị loại 2 thuộc tỉnh có quy mô dân số trên 300000 ngƣời với mật độ dân số từ 800 ngƣời/km2 - Đô thị loại III: Là thành phố, thị xã thuộc tỉnh có các phƣờng nội thành, nội thị, các xã ngoại thành, ngoại thị. Quy mô dân số trên 150000 ngƣời, mật độ dân số từ 6000 ngƣời/km2 trở lên và tỉ lệ dân số phi nông nghiệp từ 75% trở lên. - Đô thị loại IV: Là thị xã thuộc tỉnh có các phƣờng nội thị và các xã ngoại thị. Quy mô dân số từ 50000 ngƣời trở lên với mật độ dân số trên 4000 ngƣời/km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp lên tối thiểu là 70%.
- Đô thị loại V: Là thị trấn thuộc quận có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cƣ nông thôn. Quy mô dân số phải từ 4000 trở lên, mật độ dân số trên 2000 ngƣời/km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65 % trở lên. Tác động của đô thị hóa tới biến động sử dụng đất Tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất: 4 Thứ nhất: quá trình đô thị hóa dẫn đến thay đổi về cơ cấu sử dụng đất theo hƣớng giảm mạnh về diện tích đất nông nghiệp, đất chƣa sử dụng và đồng thời tăng nhanh về diện tích đất chuyên dùng, đất đô thị. Thứ hai: Quá trình đô thị hóa là nguyên nhân chính dẫn tới việc hình thành và thay đổi đất đô thị.
Đất đô thị nƣớc ta năm 2005 có 1.548 ha, năm 2010 tăng lên 1.000 ha, đến năm 2015 đã tăng 1. Đất đai đô thị còn tiếp tục gia tăng trong quá trình đô thị hóa theo mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thứ ba: Đô thị hóa thúc đẩy quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất tăng cao, đặc biệt là ở các khu vực ven đô (đất nông nghiệp chuyển sang đất đô thị, đất xây dựng, và đất chuyên dụng khác). Hiện trạng đô thị hóa ở Việt Nam Tính đến hết tháng 5-2018, Việt Nam có 813 đô thị các loại, bao gồm cả các đô thị đặc biệt là khu kinh tế, khu công nghiệp… Những thách thức về sử dụng tài nguyên, dân số, môi trƣờng, kinh tế, an sinh xã hội, văn hóa… đòi hỏi việc quản lí đô thị phải đƣợc tiếp cận một cách toàn diện và hệ thống.
Tuy nhiên, quá trình quản lý đô thị mới chỉ đƣợc nhìn nhận ở từng góc độ riêng lẻ nhƣ quy hoạch, quản lý hạ tầng… mà chƣa nhìn nhận đô thị nhƣ một thực thể thống nhất về không gian, luôn vận động và phát triển. Điều này dẫn đến yêu cầu cấp bách về một nguồn nhân lực có chất lƣợng cao, có tƣ duy hệ thống, đƣợc trang bị các phƣơng pháp, công cụ mới trong việc quản lý đô thị. Đƣợc biết, hiện nay, rất nhiều nƣớc trên thế giới đã hình thành vùng “siêu đô thị” với mục đích tăng trƣởng GDP. Ở Việt Nam đô thị cũng đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hàng năm các đô thị đóng góp tới 70% GDP của cả nƣớc.
Nhịp độ đô thị hóa: Đƣợc tính bằng công thức: TDTH = Trong đó : n là số năm tính toán :DdtI là dân số đô thị năm I :Ddtg Là dân số đô thị năm gốc tính toán 5 Độ tuổi kết hôn: Độ tuổi kết hôn của ngƣời dân đô thị tăng lên đáng kể do sức ép công việc và do nhận thức của ngƣời dân đƣợc nâng cao. Tác động này tạo điều kiện thuận lợi để giảm tỉ lệ sinh và nâng cao trình độ văn hóa, chất lƣợng sống của dân cƣ. Tăng cƣờng hiệu quả sử dụng đất: Đất đô thị có giá trị rất lớn do chức năng và tính chất sử dụng cao độ của nó. Vì thế, quá tình đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất: giảm diện tích đất nông nghiệp, tăng diện tích đất đô thị làm giá đất có sự biến động mạnh mẽ.
Tổng quan về công tác quản lí đất đai 1. Khái niệm về tài nguyên đất Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con ngƣời. Đất là lớp ngoài cùng của thạch quyển bị biến đổi tự nhiên dƣới tác động tổng hợp của nƣớc, không khí, sinh vật.