Luận văn thạc sĩ đánh giá sự tương thích giữa phương pháp kiểm tra vi sinh vật truyền thống và phương pháp đo atp quang sinh học trong quá trình kiểm tra vệ sinh của dây truyền sản xuất bia

Luận văn thạc sĩ đánh giá sự tương thích giữa phương pháp kiểm tra vi sinh vật truyền thống và đo ATP quang sinh học trong sản xuất bia.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2011

53
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt nam, thực trạng vệ sinh ở một số cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm và vi sinh vật gây ngộ độc thường gặp trong thực phẩm

1.2. Nguyên nhân khiến thực phẩm nhiễm vi sinh vật gây bệnh

1.3. Một số vi sinh vật chủ yếu thường gây ngộ độc có trong thực phẩm và vi khuẩn chỉ điểm trong kiểm soát vệ sinh thực phẩm

1.4. Công nghệ sản xuất bia, những công đoạn cần thiết phải kiểm tra vệ sinh trong sản xuất

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Trang thiết bị, dụng cụ và phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp kiểm tra vi sinh vật bằng nuôi cấy truyền thống

2.4. Phương pháp xác định tổng số Coliform và E.

2.5. Tính tổng số nấm men, nấm mốc

2.6. Tổng vi sinh vật hiếu khí

2.7. Phương pháp xác định độ sạch bằng ATP quang sinh

2.8. Ứng dụng máy đo quang UV-VIS U-1900

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Phương pháp phân tích truyền thống

3.2. Kiểm tra ở các tec lên men

3.3. Kiểm tra ở máy lọc sản phẩm

3.4. Kiểm tra ở các tec sản phẩm

3.5. Phương pháp ATP quang sinh học

3.6. Đánh giá sự tương thích giữa kiểm tra vi sinh vật bằng phương pháp truyền thống và đo ATP quang sinh

3.7. Mẫu đã biết trước nồng độ

3.8. Mẫu trên dây truyền sản xuất bia

3.9. Khảo sát ứng dụng phương pháp tạo màu xác định tổng số Coliform trên máy quang phổ U-1900 (UV-VIS spectrophotometre)

4. CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phương pháp kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia

Phương pháp kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm. Việc kiểm tra này không chỉ giúp phát hiện sự hiện diện của vi sinh vật gây hại mà còn đảm bảo rằng quy trình sản xuất bia diễn ra trong điều kiện vệ sinh tốt nhất. Các phương pháp kiểm tra vi sinh vật hiện nay bao gồm phương pháp truyền thống và phương pháp đo ATP quang sinh học. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra và chất lượng sản phẩm cuối cùng.

1.1. Tầm quan trọng của kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia

Kiểm tra vi sinh vật là một phần không thể thiếu trong quy trình sản xuất bia. Việc phát hiện sớm các vi sinh vật gây hại giúp ngăn chặn sự lây lan và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Theo nghiên cứu, vi sinh vật có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng như ngộ độc thực phẩm, ảnh hưởng đến chất lượng và hương vị của bia.

1.2. Các phương pháp kiểm tra vi sinh vật hiện nay

Hiện nay, có hai phương pháp chính được sử dụng để kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia: phương pháp nuôi cấy truyền thống và phương pháp đo ATP quang sinh học. Mỗi phương pháp có những ưu điểm riêng, như độ chính xác và thời gian thực hiện, ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương pháp phù hợp cho từng cơ sở sản xuất.

II. Vấn đề và thách thức trong kiểm tra vi sinh vật sản xuất bia

Mặc dù có nhiều phương pháp kiểm tra vi sinh vật, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất bia. Các vấn đề như ô nhiễm chéo, điều kiện vệ sinh không đảm bảo và sự phát triển của các vi sinh vật kháng thuốc là những yếu tố cần được chú ý. Việc nhận diện và xử lý kịp thời các vấn đề này là rất quan trọng để duy trì chất lượng sản phẩm.

2.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm vi sinh vật trong sản xuất bia

Ô nhiễm vi sinh vật trong sản xuất bia có thể xảy ra từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm nguyên liệu, nước, thiết bị và môi trường sản xuất. Việc không tuân thủ các quy trình vệ sinh có thể dẫn đến sự phát triển của các vi sinh vật gây hại, ảnh hưởng đến chất lượng bia.

2.2. Tác động của vi sinh vật đến chất lượng bia

Sự hiện diện của vi sinh vật không mong muốn có thể làm giảm chất lượng và hương vị của bia. Các vi sinh vật như E. coli và Salmonella có thể gây ra ngộ độc thực phẩm, trong khi các vi sinh vật khác có thể làm thay đổi hương vị và màu sắc của sản phẩm.

III. Phương pháp kiểm tra vi sinh vật truyền thống trong sản xuất bia

Phương pháp kiểm tra vi sinh vật truyền thống thường bao gồm việc nuôi cấy mẫu vi sinh vật trên môi trường đặc hiệu. Phương pháp này có độ chính xác cao nhưng thường tốn nhiều thời gian và công sức. Việc phân tích mẫu vi sinh vật cần được thực hiện trong điều kiện vô trùng để đảm bảo kết quả chính xác.

3.1. Quy trình nuôi cấy vi sinh vật

Quy trình nuôi cấy vi sinh vật bao gồm các bước như chuẩn bị môi trường nuôi cấy, lấy mẫu, nuôi cấy và phân tích kết quả. Mỗi bước đều cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo độ chính xác của kết quả kiểm tra.

3.2. Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp truyền thống

Phương pháp truyền thống có ưu điểm là độ chính xác cao và khả năng phát hiện nhiều loại vi sinh vật khác nhau. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là thời gian thực hiện lâu, có thể mất từ vài ngày đến vài tuần để có kết quả.

IV. Phương pháp đo ATP quang sinh học trong kiểm tra vi sinh vật

Phương pháp đo ATP quang sinh học là một phương pháp hiện đại, cho phép kiểm tra nhanh chóng và hiệu quả mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong sản xuất bia. Phương pháp này dựa trên việc đo lường lượng ATP có trong mẫu, từ đó suy ra mức độ ô nhiễm vi sinh vật.

4.1. Nguyên tắc hoạt động của phương pháp ATP

Phương pháp đo ATP hoạt động dựa trên nguyên tắc rằng tất cả các tế bào sống đều chứa ATP. Khi mẫu được xử lý, lượng ATP sẽ được đo bằng thiết bị quang học, cho phép xác định nhanh chóng mức độ ô nhiễm vi sinh vật.

4.2. Lợi ích của phương pháp đo ATP trong sản xuất bia

Phương pháp đo ATP mang lại nhiều lợi ích, bao gồm thời gian kiểm tra nhanh chóng, khả năng phát hiện vi sinh vật ngay cả ở nồng độ thấp và dễ dàng trong việc thực hiện. Điều này giúp các nhà sản xuất bia có thể kiểm soát chất lượng sản phẩm một cách hiệu quả hơn.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia

Nghiên cứu về kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp kiểm tra hiện đại như đo ATP có thể cải thiện đáng kể chất lượng sản phẩm. Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương thích giữa phương pháp truyền thống và phương pháp ATP, giúp các nhà sản xuất đưa ra quyết định chính xác hơn trong việc kiểm soát chất lượng.

5.1. Kết quả nghiên cứu so sánh giữa hai phương pháp

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp đo ATP có thể phát hiện vi sinh vật nhanh hơn so với phương pháp truyền thống. Điều này cho phép các nhà sản xuất có thể phản ứng kịp thời với các vấn đề vệ sinh trong dây chuyền sản xuất.

5.2. Ứng dụng thực tiễn trong ngành sản xuất bia

Việc áp dụng các phương pháp kiểm tra vi sinh vật hiện đại trong sản xuất bia không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Các nhà sản xuất cần chú trọng đầu tư vào công nghệ kiểm tra để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

VI. Kết luận và tương lai của phương pháp kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia

Kết luận cho thấy rằng việc kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia là một yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm. Tương lai của phương pháp kiểm tra này sẽ tiếp tục phát triển với sự xuất hiện của các công nghệ mới, giúp nâng cao hiệu quả và độ chính xác trong kiểm tra.

6.1. Tương lai của công nghệ kiểm tra vi sinh vật

Công nghệ kiểm tra vi sinh vật trong sản xuất bia sẽ tiếp tục phát triển với sự ra đời của các thiết bị hiện đại và phương pháp mới. Điều này sẽ giúp các nhà sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu của thị trường.

6.2. Khuyến nghị cho ngành sản xuất bia

Ngành sản xuất bia cần chú trọng đầu tư vào công nghệ kiểm tra vi sinh vật, đồng thời nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm. Việc này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn nâng cao uy tín và chất lượng sản phẩm của ngành.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá sự tương thích giữa phương pháp kiểm tra vi sinh vật truyền thống và phương pháp đo atp quang sinh học trong quá trình kiểm tra vệ sinh của dây truyền sản xuất bia

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu hàng ngày của mỗi con ngƣời. An toàn thực phẩm đã trở thành vấn đề toàn cầu; trƣớc những hiểm họa luôn rình rập, đe dọa đời sống con ngƣời bởi các thực phẩm không an toàn, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những quốc sách để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Trên thực tế, một thực trạng còn bức xúc trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm ở nƣớc ta là chất lƣợng vệ sinh còn rất kém ở nhiều cơ sở sản xuất. Những yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất chƣa đƣợc quan tâm và đầu tƣ thích đáng.

Mặt khác do lợi nhuận mà một số ít nhà cung cấp đã sử dụng các hóa chất độc hại để chế biến, nuôi trồng và sản xuất các sản phẩm thực phẩm; gây ảnh hƣởng không tốt tới sức khỏe ngƣời tiêu dùng. Việc sử dụng các thực phẩm không đảm bảo chất lƣợng vệ sinh có thể gây ngộ độc và gây ra các bệnh tiêu hóa cấp tính cho ngƣời sử dụng, nghiêm trọng hơn có thể dẫn tới tử vong. Về lâu dài, nếu các độc tố tích lũy dần dần tới một ngƣỡng nhất định có thể sẽ phát sinh các bệnh nguy hiểm, làm biến đổi cấu trúc gen gây dị tật, dị dạng cho các thế hệ tiếp theo. Trƣớc thực trạng trên, ngoài việc khuyến khích các cơ sở sản xuất thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm Nhà nƣớc và chính phủ còn chỉ thị về việc tăng cƣờng công tác bảo đảm chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm để từng bƣớc nâng cao chất lƣợng sản phẩm.

Tuy nhiên phƣơng thức quản lý kiểm tra chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm dựa trên việc kiểm tra chất lƣợng sản phẩm cuối cùng không đảm bảo đƣợc chất lƣợng vệ sinh sản phẩm trong khi sản xuất. Điều này chỉ đƣợc đảm bảo khi có sự kiểm soát chủ động và hệ thống các yếu tố chất lƣợng và điều kiện vệ sinh trong toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến, cung ứng mới có khả năng đảm bảo an toàn thực phẩm. Để đáp ứng đƣợc yêu cầu này không gì khác là phải áp dụng các phƣơng pháp kiểm tra nhanh mức độ vệ sinh trong các dây chuyền sản xuất, chế biến thực phẩm. Góp phần vào sự kiểm soát vệ sinh an toàn trong sản xuất đồ uống nói chung và sản xuất bia nói riêng, chúng tôi tiến hành thực hiện kiểm tra vệ sinh trong dây chuyền sản xuất bia, với đề tài: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “ Đánh giá sự tƣơng thích giữa phƣơng pháp kiểm tra vi sinh vật truyền thống và phƣơng pháp đo ATP quang sinh học trong quá trình kiểm tra vệ sinh của dây chuyền sản xuất bia ở Viện công nghiệp thực phẩm”.

11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt nam, thực trạng vệ sinh ở một số cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm và vi sinh vật gây ngộ độc thƣờng gặp trong thực phẩm 1. Tình hình ngộ độc thực phẩm và thực trạng vệ sinh ở một số cơ sở chế biến thực phẩm ở Việt Nam. Hàng năm ở Việt Nam xảy ra hàng trăm vụ ngộ độc thực phẩm, con số ngƣời mắc bệnh có năm lên tới chục ngàn ngƣời. Theo thống kê của Bộ Y tế, tình hình ngộ độc thực phẩm trong ba năm gần đây nhƣ sau (11): Bảng 1: Thống kê tình hình ngộ độc thực phẩm của Bộ Y tế 2008-2010 STT Chỉ số Năm thống kê 2008 2009 2010 1 Số vụ 205 152 132 2 Số ngƣời mắc 7.676 3 Số ngƣời chết 61 35 41 Trong số các nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm thì nguyên nhân chủ yếu do nhiễm vi sinh vật (thƣờng chiếm tỷ lệ từ 50 đến 58% số vụ).

Đây là thực trạng đáng báo động về tình hình vệ sinh trong sản xuất, chế biến và lƣu thông thực phẩm. Những nguy cơ gây ô nhiễm vi sinh vật có thể kể đến gồm: nguồn nƣớc, điều kiện môi trƣờng sản xuất, trang thiết bị máy móc, bao bì, dụng cụ, ngƣời trực tiếp chế biến… Đối với thực trạng vệ sinh của các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm, theo báo cáo ở một số địa phƣơng thì cũng không mấy khả quan. Theo báo cáo đánh giá thực trạng tại các cơ sở sản xuất, chế biến rƣợu, bia, nƣớc giải khát, kem, nƣớc chấm… tại Hải Phòng của tác giả Trần Văn Thọ và cộng sự năm 2005 cho thấy có tới 76,4% mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Các mẫu thức ăn đƣờng phố có tỷ lệ ô nhiễm cao về vi sinh vật, trong đó 100% không đạt về chỉ tiêu nấm men, nấm mốc; 90,9% không đạt về chỉ tiêu 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Ở tỉnh Bắc Giang, theo điều tra khảo sát một số cơ sở sản xuất nƣớc giải khát, bia, rƣợu, bánh kẹo… của tác giả Ngô Thị Oanh và cộng sự năm 2005 cho thấy 33,3% cơ sở có mức vệ sinh kém, 40% ở mức trung bình, chỉ có 26,7% đạt loại tốt. Từ một vài số liệu trên cho thấy, vấn đề vệ sinh và kiểm soát vệ sinh trong các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm rất đáng để các nhà sản xuất và các nhà quản lý lƣu tâm nhiều hơn nữa. Nguyên nhân khiến thực phẩm nhiễm vi sinh vật gây bệnh Các yếu tố cơ hội có thể dẫn tới thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh nhƣ: + Nhóm gây ô nhiễm thực phẩm: Quá trình sản xuất, chế biến, thu hoạch không đảm bảo các yêu cầu vệ sinh an toàn dẫn tới thực phẩm bị ô nhiễm. + Nhóm các yếu tố gây ảnh hƣởng tới sự tồn tại của mầm bệnh trong thực phẩm nhƣ việc không đun nấu kỹ, không xử lý đầy đủ các yêu cầu vệ sinh chung + Nhóm các yếu tố gây tái nhiễm: Do quá trình bảo quản không đảm bảo, gây tái nhiễm từ ngƣời chế biến, phục vụ, môi trƣờng hay từ dụng cụ sang thực phẩm.

Nếu ngƣời làm công tác thực phẩm bị ốm hay mang vi trùng gây bệnh thì trong quá trình chế biến vi trùng sẽ vƣớng vào thực phẩm. Theo cách này, trứng giun hay vi trùng lao, lỵ có thể bị nhiễm vào thực phẩm. Nguy hiểm hơn nữa là những ngƣời mang sẵn vi trùng gây bệnh nhƣng không có biểu hiện của bệnh, nhƣ vi trùng thƣơng hàn sống lâu trong gan ngƣời đã khỏi bệnh làm phân của họ bị nhiễm trùng, ngƣời mắc bệnh lỵ cũng mang vi trùng trong một thời gian dài sau khi khỏi bệnh. Ngoài ra, chuột gián hay ruồi là những sinh vật hay làm nhiễm trùng thực phẩm.

Ngƣời ta thấy rằng, trong một vùng có bệnh dịch tả thì hầu hết ruồi đều có vi trùng dịch tả. Trong phân và nƣớc đái của chuột rất dễ tìm thấy vi trùng thƣơng hàn. Chuột cũng rất hay truyền bệnh cho lợn, gà từ đó vào thực phẩm. Hay trên mình gián, ngƣời ta thấy có rất nhiều vi trùng đƣờng ruột.

Vi trùng đƣờng ruột thƣờng có nhiều trong phân, phân lại đƣợc dùng bón cho rau nên cũng có rất nhiều vi trùng nguy hiểm. Các loại tôm cua, ốc, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com … sống trong nƣớc bẩn cũng hay có trứng hoặc vi trùng gây bệnh. Có rất nhiều trƣờng hợp bị bệnh thƣơng hàn nguyên nhân do ngƣời bệnh ăn phải hải sản, tôm cua có vi trùng gây bệnh. Cuối cùng, yếu tố gây nhiễm trùng nữa là dụng cụ chế biến không vệ sinh sạch sẽ, khu vực chế biến có điều kiện vệ sinh kém.

Một số vi sinh vật chủ yếu thường gây ngộ độc có trong thực phẩm và vi khuẩn chỉ điểm trong kiểm soát vệ sinh thực phẩm 1. Ngộ độc do E. coli sống trong tự nhiên thƣờng không hay gây ngộ độc, nhƣng ở một điều kiện nhất định sẽ gây bệnh (vi khuẩn gây ngộ độc có điều kiện). coli gây bệnh truyền nhiễm nhƣ bệnh tả ở các tiểu gia súc, bệnh ỉa chảy ở trẻ em, bệnh trúng độc nhiễm huyết ở trẻ sơ sinh.

Cấu trúc kháng nguyên E. coli chia ra ba loại: O, N và K. Vi khuẩn gây bệnh nặng nhất là loại có kháng nguyên K. Những vi khuẩn có cấu trúc kháng nguyên khác nhau thì gây bệnh cũng không giống nhau, trong gây bệnh thực nghiệm thì ngƣời nhạy hơn động vật.

Thời kỳ ủ bệnh thƣờng từ 2 đến 20 giờ. Bệnh phát đột ngột, ngƣời bị bệnh thấy đau bụng dữ dội, ít bị nôn mửa. Nhiệt độ cơ thể bình thƣờng hoặc hơi sốt. Ngộ độc do Clostridium perfringens Clostridium perfringens sản sinh ra 6 tuýp độc tố: A, B, C, D, E, F.

Trong 6 tuýp này thì độc tố A là độc tố chủ yếu gây ngộ độc sau đó đến tuýp F. Thời gian ủ bệnh trung bình 10 -12 giờ, có khi 6 đến 8 giờ cũng có thể dài hơn. Bệnh xuất hiện với những triệu chứng viêm ruột, dạ dày, đau bụng ỉa chảy, phân lỏng hoặc toàn nƣớc; thỉnh thoảng có trƣờng hợp nôn mửa, nhức đầu, sốt. Ngộ độc do Salmonella Vi khuẩn gây ngộ độc thƣờng là Salmonella typhymurium, Salmonella choleraesuls và salmonella enteritidis.

Về cơ chế, các nhà khoa học cho rằng vi khuẩn Salmonella sinh ra ngoại tố chịu nhiệt, loại độc tố này gây bệnh cho ngƣời và động vật. Cũng có tác giả cho rằng ngộ độc Salmonella do đƣờng tiêu hóa hấp thụ phải một lƣợng lớn vi khuẩn Salmonella sống. Khi vào đến máu vi khuẩn bị phá vỡ và tiết ra một lƣợng độc tố gây độc cho cơ thể. Tuy nhiên cùng ăn phải thức ăn nhiễm Salmonella, không phải ai cũng bị ngộ độc.

14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài số lƣợng vi khuẩn bị nhiễm, phản ứng của từng cơ thể là yếu tố quan trọng khiến ngƣời đó có bị ngộ độc hay không. Ngộ độc Salmonella thƣờng có các triệu chứng nôn mửa, ỉa chảy, sốt. Thời gian ủ bệnh trung bình từ 12 đến 24 giờ. Trƣớc khi phát bệnh thƣờng có hiện tƣợng nhức đầu, chán ăn, mặt tái nhợt, ra mồ hôi.

Vi khuẩn chỉ điểm trong thực phẩm Vi khuẩn chỉ điểm trong thực phẩm đƣợc chia làm hai loại: Vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh và vi khuẩn chỉ điểm phẩm chất.  Vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh (y tế) Vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh là những vi khuẩn mà sự có mặt của chúng trong thực phẩm chứng tỏ thực phẩm đã bị nhiễm phân. Việc xác định trực tiếp những vi sinh vật gây bệnh gặp rất nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian. Để đơn giản hơn cho quá trình kiểm tra vệ sinh thực phẩm, ngƣời ta xác định gián tiếp sự có mặt của vi sinh vật gây bệnh bằng cách xác định các trực khuẩn đƣờng ruột E.coli, Clostridium Welchii,… Vi khuẩn hiếu khí ƣa nhiệt độ trung bình là một trong những chỉ điểm có ích.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ