Tổng quan nghiên cứu

Sông Thái Bình giữ vị trí huyết mạch trong việc phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh nguồn nước cho tỉnh Hải Dương nói chung và thành phố Hải Dương nói riêng. Nguồn nước mặt từ dòng sông này đang cung cấp trực tiếp cho 4 công trình cấp nước sạch đô thị với tổng công suất đạt 117.000 m3/ngày đêm, chiếm tới 83,69% tổng lượng nước khai thác mặt trên toàn lưu vực sông Thái Bình thuộc tỉnh Hải Dương (139.800 m3/ngày đêm). Cùng với đó, nguồn nước sông còn bảo đảm tưới tiêu cho hơn 1.704 ha đất canh tác nông nghiệp và nuôi dưỡng 513 lồng cá thương phẩm trên địa bàn. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nhanh chóng của tỉnh Hải Dương với mức tăng trưởng GRDP đạt 8,9% và giá trị sản xuất công nghiệp đạt 164.696 tỷ đồng đã gia tăng áp lực xả thải nghiêm trọng lên dòng sông.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là sự suy giảm chất lượng nước mặt và tình trạng ô nhiễm hữu cơ, chất rắn lơ lửng diễn biến bất thường do chưa phân định rõ nguồn thải tiếp nhận. Mục tiêu của luận văn là điều tra, thống kê toàn diện các nguồn xả thải chính; đánh giá chất lượng nước sông Thái Bình đoạn qua thành phố Hải Dương theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08-MT:2015/BTNMT và chỉ số chất lượng nước WQI; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ nhằm bảo đảm nguồn nước đạt chuẩn cấp sinh hoạt loại A2. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 4 xã (Thượng Đạt, An Châu, Ái Quốc, Nam Đồng) và 5 phường (Việt Hòa, Cẩm Thượng, Bình Hàn, Ngọc Châu, Hải Tân) thuộc thành phố Hải Dương trong khung thời gian từ tháng 2/2018 đến tháng 12/2018, đem lại luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị môi trường nước lưu vực sông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp luận đánh giá ô nhiễm môi trường nước dựa trên các mô hình lý thuyết khoa học tiêu chuẩn:

  1. Mô hình tính toán Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) ban hành theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT của Tổng cục Môi trường, kế thừa cấu trúc trọng số của mô hình Oregon WQI (Hoa Kỳ) và phương pháp đánh giá chuyên gia Delphi. Mô hình quy đổi các thông số hóa lý phức tạp về thang điểm 0 - 100 tương ứng với 5 mức độ sử dụng nước.
  2. Lý thuyết tự làm sạch của nguồn nước mặt và động lực học thủy lực dòng chảy, mô tả quá trình pha loãng, phân hủy sinh học các hợp chất hữu cơ và lắng đọng trầm tích trong sông ngòi tự nhiên.

Nghiên cứu vận hành trên các khái niệm chuyên ngành nền tảng:

  • Chỉ số chất lượng nước (WQI): Đại lượng toán học tích hợp nồng độ các chất ô nhiễm đo đạc được thành một chỉ số số học duy nhất phản ánh mức độ sạch của nguồn nước.
  • Nguồn thải điểm (Point source): Nguồn xả thải có vị trí xác định cụ thể như cống xả đô thị, trạm bơm tiêu úng, cửa xả nhà máy công nghiệp.
  • Nguồn thải diện (Non-point source): Nguồn phát tán ô nhiễm không cố định từ dòng chảy tràn bề mặt đồng ruộng nông nghiệp, bến bãi vật liệu xây dựng và nước mưa chảy tràn.
  • Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT:2015/BTNMT): Khung pháp lý quy định giới hạn nồng độ các chất ô nhiễm đối với mục đích cấp nước sinh hoạt (cột A2) và tưới tiêu nông nghiệp (cột B1).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được kết hợp chặt chẽ giữa số liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát thực địa và số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương cùng báo cáo quan trắc giai đoạn 2011 - 2017 của Trung tâm Quan trắc môi trường địa phương.

Về phương pháp phân tích thực nghiệm:

  • Cỡ mẫu và bố trí điểm đo: Nghiên cứu thiết lập mạng lưới gồm 9 vị trí quan trắc ký hiệu từ N1 đến N9 trải dài dọc dòng chính sông Thái Bình qua thành phố Hải Dương. Cỡ mẫu gồm 18 mẫu nước mặt đại diện được thu thập qua 2 đợt khảo sát đặc trưng: mùa khô (tháng 2/2018) và mùa mưa (tháng 7/2018).
  • Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu theo nguyên tắc phân tầng kết hợp mạng lưới kiểm soát rủi ro, tập trung vào các điểm nhạy cảm cao như khu vực lấy nước thô nhà máy nước Cẩm Thượng (N5, N6), điểm xả trạm bơm tiêu Nam Đồng (N1), khu vực bến thủy Cầu Hàn (N9), cầu Phú Lương (N2), bến bãi Bình Hàn (N3), kênh tiêu T5 (N4), cảng Cống Câu (N7) và âu thuyền Ngọc Châu (N8).
  • Quy trình lấy mẫu và phân tích: Công tác lấy mẫu tuân thủ nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn TCVN 6663-6:2008 (ISO 5667-6:2005). Nghiên cứu tiến hành phân tích 14 thông số môi trường nước cốt lõi bao gồm: pH (TCVN 6492:2011), DO (TCVN 7325:2004), TSS (SMEWW 2540.B:2012), COD, BOD5, N-NH4+ (SMEWW-4500-NH3.F:2012), N-NO2- (SMEWW 4500-NO2.B:2012), P-PO43-, tổng dầu mỡ (SMEWW 5520.B:2012), Coliform tổng số cùng các kim loại nặng Asen, Cadimi và Chì.
  • Lý do lựa chọn: Phương pháp phân tích tiêu chuẩn kết hợp tính toán WQI giúp lượng hóa trực quan diễn biến suy giảm chất lượng nước, loại bỏ các sai số đo đạc đơn lẻ và cung cấp cái nhìn toàn diện về khả năng chịu tải của sông theo mùa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực địa và phân tích mẫu nước trong năm 2018 đã làm rõ các phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, hệ thống tiêu thủy lợi là nguồn truyền dẫn tải lượng ô nhiễm lớn nhất vào dòng chính. Thành phố Hải Dương có 9 công trình tiêu nước thải ra sông Thái Bình với tổng lưu lượng xả đạt 60,6 m3/s, chiếm 18,24% tổng lượng nước xả vào sông của toàn tỉnh. Trong đó, trạm bơm Nam Đồng có lưu lượng xả lớn nhất đạt 16,67 m3/s (chiếm 27,51% lưu lượng xả thải toàn thành phố). Các cửa xả tại trạm bơm Đồng Niên, kênh T2 và trạm bơm Bình Hàn xả lưu lượng từ 1,11 đến 4,44 m3/s với hiện trạng dòng nước đen kịt và phát sinh mùi hôi nồng nặc.

Thứ hai, ô nhiễm chất rắn lơ lửng và chất hữu cơ xảy ra cục bộ ở mức nghiêm trọng trong mùa khô tại các điểm tiếp nhận nước thải đô thị. Dữ liệu quan trắc mùa khô (tháng 2/2018) chỉ ra rằng tại điểm N2 (Cầu Phú Lương), nồng độ TSS lên tới 106,0 mg/l (vượt 3,53 lần quy chuẩn A2 và 2,12 lần quy chuẩn B1 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT); COD đạt 47,7 mg/l (vượt 1,59 lần chuẩn B1); BOD5 đạt 22,5 mg/l (vượt 1,5 lần chuẩn B1); Coliform đạt 9.300 MPN/100ml. Tại điểm N3 (phường Bình Hàn), hàm lượng TSS ghi nhận 78,8 mg/l và COD là 33,6 mg/l, đều vượt ngưỡng an toàn cho phép.

Thứ ba, khu vực khai thác nước mặt cho các nhà máy nước sạch vẫn giữ được độ an toàn tương đối trong giới hạn kiểm soát. Tại điểm quan trắc N5 (thượng lưu trạm cấp nước Cẩm Thượng 200m) và N6 (hạ lưu trạm 200m), nồng độ COD dao động từ 12,8 đến 14,7 mg/l; BOD5 đạt 4,7 đến 5,5 mg/l (nằm trong giới hạn cột A2). Hàm lượng kim loại nặng tại tất cả các điểm khảo sát đều ở mức rất thấp (As <0,001 mg/l, Cd <0,001 mg/l, Pb dao động từ 0,009 đến 0,031 mg/l), đáp ứng tiêu chuẩn nguồn nước thô cấp cho sinh hoạt.

Thứ tư, áp lực từ chất thải rắn và các hoạt động kinh tế ven bờ tạo ra nguy cơ suy thoái môi trường kéo dài. Thành phố phát sinh 51,94 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày (chiếm 39,22% toàn tỉnh) và 100.750,14 tấn chất thải rắn nông nghiệp mỗi năm (trong đó có 4.450 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật). Toàn địa bàn có 513 lồng nuôi cá (chiếm 49,66% toàn tỉnh, riêng xã Nam Đồng chiếm 504 lồng) với tỷ lệ thức ăn thất thoát trực tiếp ra môi trường nước khoảng 15%, cùng hoạt động bốc dỡ của 14 bãi cát sỏi và 1 cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn/năm.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu quan trắc khi được biểu diễn trên biểu đồ tương quan không gian và bảng phân hạng WQI đã phản ánh rõ rệt quy luật biến thiên chất lượng nước theo mùa và theo phân đoạn dòng chảy. Trong mùa khô, lưu lượng dòng chảy tự nhiên từ sông Đuống (31,6 tỷ m3/năm) và sông Thương (7,46 tỷ m3/năm) đổ về sông Thái Bình sụt giảm mạnh, chỉ chiếm 20% tổng lượng dòng chảy cả năm. Khả năng tự làm sạch và pha loãng chất ô nhiễm của sông giảm sút nghiêm trọng, dẫn đến sự tích tụ các chất lơ lửng và chất hữu cơ tại các khu vực tiếp nhận nước thải sinh hoạt và dịch vụ bến bãi nội thành.

Nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm cục bộ tại cầu Phú Lương (N2) và Bình Hàn (N3) xuất phát từ việc nước thải sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý triệt để xả thẳng ra hệ thống kênh mương rồi đẩy ra dòng chính qua các cống tiêu tự chảy (tổng lưu lượng 10,05 m3/s). Ngoài ra, nước chảy tràn cuốn theo bụi bẩn từ 14 bãi tập kết vật liệu xây dựng ven sông cũng đóng góp lượng lớn chất rắn lơ lửng.

So sánh với các lưu vực sông khác tại miền Bắc, chất lượng nước sông Thái Bình qua thành phố Hải Dương tốt hơn đáng kể so với sông Nhuệ - sông Đáy (nơi WQI thường xuyên ở mức 0 - 25, nước ô nhiễm rất nặng) và ổn định hơn sông Cầu đoạn qua Bắc Ninh - Bắc Giang (WQI từ 50 - 76). Tuy nhiên, nguy cơ suy thoái cục bộ tại các điểm xả tiêu úng nội đồng là hồi chuông cảnh báo cần các biện pháp can thiệp kỹ thuật ngay từ các tiểu lưu vực nội đô.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, nâng cấp hạ tầng thu gom và kiểm soát nghiêm ngặt các nguồn xả thải điểm. Thành phố cần đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung công suất 20.000 - 30.000 m3/ngày đêm cho các phường nội đô (Bình Hàn, Cẩm Thượng, Ngọc Châu), hướng tới mục tiêu xử lý đạt 70% lượng nước thải sinh hoạt đô thị đạt chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT trước năm 2025. Lắp đặt hệ thống camera giám sát và trạm quan trắc tự động liên tục tại 9 cửa xả công trình tiêu chính, đặc biệt là trạm bơm Nam Đồng (16,67 m3/s). Cơ quan chủ trì: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường.

Thứ hai, tổ chức lại không gian kinh tế ven sông và chuẩn hóa kỹ thuật nuôi trồng thủy sản. Tiến hành giải tỏa, di dời dứt điểm các bãi tập kết vật liệu xây dựng không phép trong số 14 bãi hiện có; bắt buộc các bãi còn lại xây dựng gờ chắn và bể lắng nước mưa chảy tràn trước năm 2024. Quy hoạch cố định vùng nuôi 513 lồng cá tại xã Nam Đồng, kiểm soát chặt chẽ mật độ lồng bè và chuyển đổi 100% sang sử dụng thức ăn công nghiệp chất lượng cao nhằm kéo giảm tỷ lệ thất thoát thức ăn từ 15% xuống dưới 8%. Cơ quan chủ trì: Chi cục Thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Thứ ba, kiểm soát triệt để chất thải rắn và dư lượng hóa chất nông nghiệp. Bố trí hệ thống bể thu gom chuyên dụng xử lý 100% lượng vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật phát sinh (khoảng 4.450 tấn/năm) trên diện tích 1.704,8 ha đất lúa và rau màu; đẩy mạnh ứng dụng lò đốt chất thải rắn sinh hoạt hợp chuẩn để xử lý dứt điểm 51,94 tấn rác thải/ngày. Chuẩn hóa quy trình vận hành hầm biogas xử lý chất thải chăn nuôi tại 100% hộ dân ven sông trong giai đoạn 2024 - 2025. Cơ quan chủ trì: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố phối hợp Hội Nông dân các xã.

Thứ tư, thiết lập cơ chế điều phối quản lý liên tỉnh và nâng cao năng lực quan trắc. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương cần xây dựng quy chế phối hợp chia sẻ thông tin nguồn thải xuyên biên giới với tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt kiểm soát chặt chẽ lưu lượng và chất lượng nước xả từ trạm bơm Kênh Vàng II (44,44 m3/s) và trạm bơm Nhất Trai (30 m3/s). Đầu tư hiện đại hóa 100% trang thiết bị phân tích môi trường nước theo chuẩn VIMCERTS cho các đơn vị quan trắc địa phương. Cơ quan chủ trì: Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương phối hợp Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và quy hoạch đô thị (Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường, UBND thành phố Hải Dương): Sử dụng số liệu tải lượng xả thải và vị trí 9 công trình tiêu làm căn cứ cấp phép xả nước thải vào nguồn nước, lập quy hoạch phân vùng bảo vệ chất lượng nước mặt và xây dựng kế hoạch quản lý lưu vực sông định kỳ.
  2. Các doanh nghiệp cấp nước sạch đô thị và khu công nghiệp (Công ty Cổ phần Kinh doanh Nước sạch Hải Dương, Ban quản lý Nhà máy nước Cẩm Thượng, Việt Hòa): Ứng dụng nguồn dữ liệu quan trắc thủy lý, thủy hóa tại các điểm N5, N6 để đánh giá chất lượng nước thô đầu vào, tối ưu hóa quy trình châm hóa chất tiền xử lý và xây dựng kịch bản ứng phó sự cố ô nhiễm nguồn nước theo mùa.
  3. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên Nước: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tính toán chỉ số WQI theo Quyết định 879/QĐ-TCMT, quy trình điều tra nguồn thải hỗn hợp điểm - diện và kỹ thuật phân tích số liệu quan trắc môi trường sông ngòi.
  4. Các đơn vị tư vấn môi trường và ban quản lý cảng bến, làng nghề: Tham khảo khung đánh giá tác động và các giải pháp kỹ thuật kiểm soát nước tràn bề mặt, xử lý chất thải lồng bè thủy sản để áp dụng vào công tác lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho các dự án phát triển ven sông.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguồn gây ô nhiễm chính đối với dòng chính sông Thái Bình qua thành phố Hải Dương là gì? Dòng sông tiếp nhận lượng nước xả khổng lồ từ 9 công trình tiêu thủy lợi với tổng lưu lượng 60,6 m3/s, mang theo nước thải tổng hợp đô thị, làng nghề và nước tiêu nông nghiệp. Bên cạnh đó, áp lực từ 51,94 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày, 14 bãi tập kết vật liệu xây dựng và nguồn nước xả từ các trạm bơm ngoại tỉnh như Kênh Vàng II (44,44 m3/s) là các tác nhân chính gây ô nhiễm.

  2. Chất lượng nước tại các trạm cấp nước sinh hoạt Cẩm Thượng và Việt Hòa có bảo đảm an toàn không? Theo kết quả phân tích tại các điểm quan trắc N5 và N6, các chỉ tiêu hóa lý như COD (12,8 - 14,7 mg/l), BOD5 (4,7 - 5,5 mg/l) và kim loại nặng (As, Cd <0,001 mg/l) đều đạt giới hạn cột A2 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT, bảo đảm điều kiện làm nguồn nước thô cấp sinh hoạt nhưng cần giám sát chặt chẽ nguy cơ ô nhiễm vi sinh và dầu mỡ từ giao thông thủy.

  3. Tại sao chất lượng nước sông Thái Bình trong mùa khô lại suy giảm nghiêm trọng hơn mùa mưa? Trong mùa khô (tháng 2), tổng lượng dòng chảy trên sông chỉ chiếm 20% lượng dòng chảy cả năm, làm giảm mạnh khả năng pha loãng và tự làm sạch tự nhiên. Khi các công trình tiêu vẫn tiếp tục xả nước thải đô thị, nồng độ chất rắn lơ lửng và chất hữu cơ tăng vọt, điển hình như tại cầu Phú Lương TSS đạt tới 106,0 mg/l và COD đạt 47,7 mg/l.

  4. Chỉ số chất lượng nước WQI được áp dụng trong luận văn theo phương pháp nào? Luận văn áp dụng quy chuẩn tính toán WQI theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT của Tổng cục Môi trường. Chỉ số WQI được tích hợp từ các giá trị toán học thành phần của 8 thông số gồm DO (% bão hòa), BOD5, COD, NH4+, PO43-, TSS, độ đục và Coliform, từ đó quy đổi thành thang điểm 0 - 100 để đánh giá mức độ sạch của từng vị trí.

  5. Hoạt động nuôi cá lồng trên sông ảnh hưởng như thế nào đến môi trường nước? Toàn thành phố có 513 lồng cá, tập trung 98,24% tại xã Nam Đồng. Tỷ lệ thức ăn thừa thất thoát ra môi trường chiếm khoảng 15% tổng lượng thức ăn tiêu thụ. Mặc dù dòng chảy lớn giúp hạn chế ô nhiễm diện rộng, nhưng việc đặt lồng bè tự phát, san sát nhau đã làm cản trở lưu thông thủy lực và gây tích tụ hữu cơ cục bộ tại đáy sông.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập bức tranh tổng thể về 9 công trình tiêu thủy lợi với tổng lưu lượng xả thải 60,6 m3/s đổ vào dòng chính sông Thái Bình qua địa bàn thành phố Hải Dương.
  • Kết quả quan trắc 14 thông số trên 9 vị trí khảo sát qua 2 mùa năm 2018 cho thấy chất lượng nước nhìn chung đạt mức trung bình đến tốt, nhưng xuất hiện các điểm nóng ô nhiễm hữu cơ và TSS cục bộ trong mùa khô tại Cầu Phú Lương (TSS 106,0 mg/l) và phường Bình Hàn.
  • Vùng khai thác nước thô phục vụ các nhà máy nước sạch sinh hoạt với tổng công suất 117.000 m3/ngày đêm vẫn bảo đảm các tiêu chí an toàn theo quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A2.
  • Nghiên cứu đã định lượng hóa các nguồn thải phân tán từ 51,94 tấn rác thải/ngày, 100.750 tấn chất thải rắn nông nghiệp/năm và 513 lồng nuôi cá trên sông.
  • Đề xuất hoàn chỉnh 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quản lý quy hoạch và điều phối liên tỉnh với lộ trình thực hiện cụ thể trong giai đoạn 2024 - 2026.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bộ cơ sở dữ liệu quan trắc thực nghiệm tin cậy và hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý tài nguyên nước mặt tại địa phương. Để bảo vệ bền vững nguồn nước sông Thái Bình, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp khai thác nước cần sớm ứng dụng các khuyến nghị của đề tài vào thực tiễn quy hoạch và đầu tư công nghệ quan trắc tự động trong thời gian tới.