chương I khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 :”Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dung để bảo vệ môi trường. - Khái niệm tiêu chuẩn môi trường Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường [Type text] 11 (theo khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ Môi trường năm 2014). - Khái niệm về khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước Theo khoản 17 điều 2 luật Tài nguyên nước Việt Nam năm 2012: Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước là khả năng nguồn nước có thể tiếp nhận thêm một lượng nước thải mà vẫn bảo đảm chất lượng nguồn nước cho mục đích sử dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam hoặc tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật nước ngoài được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép áp dụng. - Khái niệm phát triển bền vững Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường (theo khoản 4 điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam, 2014).
- Khái niệm chất gây ô nhiễm Theo khoản 11 điều 3 Luật bảo vệ Môi trường năm 2014: Chất ô nhiễm là các chất hóa học,các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm. - Khái niệm về nước thải Nước thải là một dạng lỏng hòa tan hay trộn lẫn giữa nước (nước dùng, nước mưa, nước mặt, nước ngầm,…) và chất thải từ sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, vui chơi giải trí, giao thông vận tải (Dư Ngọc Thành, 2014) [7]. -Khái niệm Quan trắc môi trường: Theo khoản 20 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2014: Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhăm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi [Type text] 12 trường.3 Cơ sở thực tiễn Hiện nay tình trạng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt đang ngày càng trở nên đáng lo ngại. Sự phát triển CNH – HĐH đất nước và sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu sử dụng nước tăng và lượng nước thải cũng tăng lên tương ứng.
Nước thải nếu không được xử lý an toàn sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, đặc biệt là làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí. Quá trình nước thải ngấm vào nước mặt và nước ngầm sẽ gây ô nhiễm môi trường nước, gây nguy hại đến sức khỏe người sử dụng. Nước thải thấm vào đất làm phá hủy cấu trúc của đất và tích tụ các chất nguy hại vào thực vật, môi trường không khí, môi trường nước bị ô nhiễm là nguyên nhân chính gây ra các căn bệnh về đường hô hấp, tuần hoàn, đường ruột, lao, ung thư,… Đặc biệt con số người mắc bệnh ung thư đang ngày một tăng lên trở thành vấn nạn cho loài người.Thực trạng ô nhiễm môi trường nước trên thế giới Trong thập niên 60 ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến độ phát triển kỹ nghệ.
Ở Anh Quốc đầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này, các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt. Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn nhưng vấn đề cũng không khác bao nhiêu. Dân Pari còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18.
Từ đó vấn đề đổi khác, các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc [Type text] 13 Sandoz ở Bale năm 1986) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên. Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng khác bị ô nhiễm nặng trong đó có hồ Erie, Ontario là đặc biệt nghiêm trọng [8]. Thực trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với các mức độ nghiêm trọng khác nhau.
Nông nghiệp là nghành sử dụng nhiều nước nhất cho tưới lúa và hoa màu, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Việc sử dụng nông dược và phân bón hóa học ngày càng góp thêm phần làm ô nhiễm môi trường nông thôn. Công nghiệp là nghành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi nghành có một loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số.
Khu công nghiệp Việt trì xả mỗi ngày hàng trăm mét khối nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt,. xuống sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể. Khu công nghiệp Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận. Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số và các đô thị.
Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước ta. Điều đáng nói là các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môi trường chưa qua xử lý gì cả, vì nước ta chưa có hệ thống xử lý nước thải nào đúng nghĩa như tên gọi. Nước ngầm cũng bị ô nhiễm, do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nông nghiệp. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm [Type text] 14 mặn và nhiễm phèn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long và ven biển miền Trung.
Nước thải sinh hoạt là một vấn đề quan trọng cho những thành phố lớn và đông dân cư nhất là đối với các quốc gia đã phát triển. Riêng đối với các quốc gia còn trong tình trạng đang phát triển, vì hệ thống cống rãnh thoát nước còn trong tình trạng thô sơ, không hợp lý cũng như không theo kịp đà phát triển dân số tăng nhanh như trường hợp ở các thành phố ở Việt Nam như: Hà Nội, Quảng Ninh, Sài Gòn, Hải Phòng, Nha Trang, Đà Nẵng, Cần Thơ,. việc giải quyết và xử lý nước thải hầu như không thể thực hiện được. Nước thải sau khi qua hệ thống cống rãnh được chảy thẳng vào sông rạch và sau đó cùng đổ ra biển mà không qua giai đoạn xử lý.
Thêm nữa, hầu hết các cơ sở công kỹ nghệ cũng không có hệ thống xử lý nước thải, do đó tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng trầm trọng hơn nữa. Nếu tình trạng trên không chấm dứt, nguồn nước mặt và dọc theo bờ biển Việt Nam sẽ không còn được sử dụng được nữa trong một tương lai không xa. Trong một báo cáo toàn cầu mới được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố cho thấy mỗi năm Việt Nam có hơn 20000 người tử vong do điều kiện nước sạch và vệ sinh nghèo nàn thấp kém. Còn theo thống kê của Bộ Y Tế, hơn 80% các bệnh truyền nhiễm ở nước ta liên quan đến nguồn nước.
Người dân ở cả nông thôn và thành thị đang phải đối mặt nguy cơ mắc bệnh do môi trường nước đang ngày một ô nhiễm trầm trọng [8] 2. Thực trạng ô nhiễm môi trường nước thành phố Hà Nội Theo báo cáo của Sở tài nguyên môi trường và nhà đất Hà Nội cho biết: + Theo báo cáo năm 2005 thì mỗi ngày cư dân và các nhà máy công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại Hà Nội thải ra 300.000 tấn nước thải, mỗi năm thải ra các sông, hồ khoảng 3.600 tấn hữu cơ, 317 tấn dầu mỡ, hàng chục tấn kim loại nặng, các chất dung môi và các chất kim loại khác + Dự báo đến năm 2010 tại Hà Nội mỗi ngày cư dân vì thế các nhà máy [Type text] 15 công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp sẽ thải ra môi trường nước khoảng 510.000 m3 chất thải/ngày. - Nước thải của Hà Nội chủ yếu được thải vào một số sông - hồ chínhnhư: Hồ Tây, Hồ Bảy mẫu, Hồ Thủ Lệ, Sông Tô lịch, Sông Kim Ngưu. bốc mùi hôi thối và rất khó chịu ảnh hưởng đến sinh hoạt của con người, đặc biệt là những cá nhân sống xung quanh hồ và dọc theo các con sông, số còn lại ngấm xuống các mạch nước ngầm làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước sinh hoạt tại một số nơi trên địa bàn thành phố Hà Nội.
-Một thực tế cho thấy ở các cống rãnh, sông hồ ở Hà Nội là ô nhiễm trầm trọng, màu nước đen kịt, hôi thối các loại sinh vật như cá, tôm. không thể nào sống được, bên cạnh đó mùi hôi thối bốc lên theo luồng ghé hay vào các khu vực cư dân sinh sống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và sinh hoạt của con người và cảnh quan môi trường đô thị. ở một số khu chợ lớn và các chợ. Các hoạt động tại một số khu dân sinh sống thì tình trạng nước thải của các hàng giết mổ, các đồ thực phẩm thải ra một cách bừa bãi gây ra mùi hôi thối, đây chính là môi trường cho các vi trùng, vi khuẩn, vi sinh vật phát sinh tạo mầm mống dịch bệnh.