MỞ ĐẦU Làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, đƣợc phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu. Trong những năm qua, nhất là khi nƣớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng, hội nhập dần vào nền kinh tế thế giới thì hoạt động làng nghề ở Bắc Ninh đã có bƣớc thay đổi lớn. Đến nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực nhƣ đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng.; trong đó có 32 làng nghề truyền thống và 30 làng nghề mới, chiếm khoảng 10% tổng số làng nghề truyền thống của cả nƣớc. Các làng nghề tập trung chủ yếu ở 3 huyện Từ Sơn, Yên Phong và Gia Bình (3 huyện này có 42 làng nghề, chiếm gần 68% số làng nghề của tỉnh).
Nhiều làng nghề của Bắc Ninh nhƣ: gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, tranh Đông Hồ. có từ lâu đời và nổi tiếng cả trong và ngoài nƣớc. Hàng năm, các làng nghề đã đóng góp ngân sách nhà nƣớc, tạo việc làm tại chỗ cho gần 35 nghìn lao động và thu hút hàng nghìn lao động nông thôn các vùng phụ cận. Việc khôi phục các làng nghề cũ, xây dựng các làng nghề mới, hình thành các cụm công nghiệp theo ngành hàng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống; là mục tiêu, động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, phù hợp với chủ trƣơng của Đảng và Chính phủ về công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
Theo thống kê, Bắc Ninh chiếm 18% số làng nghề và trên 10% số làng nghề truyền thống của cả nƣớc. Làng nghề Bắc Ninh có vị trí quan trọng trong cuộc sống của nhân dân, có đóng góp quan trọng vào tăng trƣởng kinh tế địa phƣơng những năm qua (tính từ năm 1997 đến nay giá trị sản xuất của khu vực làng nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm 75 - 80% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và trên 30% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh). Làng nghề đã góp phần tích cực trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở địa phƣơng. Tạo ra một khối lƣợng hàng hoá dồi dào, phong phú đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu.
Làng nghề phát triển đã cải thiện đời sống nhân dân, nhiều hộ giàu có nhờ phát triển nghề truyền thống [7]. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Song cùng với sự phát triển kinh tế là nạn ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng, làm ảnh hƣởng đến sức khỏe ngƣời dân, sản xuất nông nghiệp và cảnh quan. Kết quả điều tra khảo sát chất lƣợng môi trƣờng tại một số làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong các năm gần đây cho thấy các mẫu nƣớc mặt, nƣớc ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm với mức độ khác nhau; môi trƣờng không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vƣợt tiêu chuẩn cho phép và ô nhiễm do sử dụng than, đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lƣợng các nguồn nƣớc suy giảm mạnh. “Với định hƣớng phát triển của tỉnh đến năm 2020 là chủ động phát triển kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá gắn liền với bảo vệ môi trƣờng, ngăn chặn về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm, phục hồi suy thoái và nâng cao chất lƣợng môi trƣờng, làm cho mọi ngƣời dân đƣợc sống trong môi trƣờng có chất lƣợng tốt; chủ động thực hiện và đáp ứng các yêu cầu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; việc nghiên cứu xây dựng và lựa chọn các giải pháp xử lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng các làng nghề trên địa bàn tỉnh là công việc rất quan trọng để phát triển bền vững [19].” Xuất phát từ thực tiễn này, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước tại một số làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm”.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm về làng nghề Đề tài nghiên cứu môi trƣờng dƣới tác động của các hoạt động sản xuất trong phạm vi các làng xã và các vấn đề liên quan. Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ƣu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông. Làng nghề đƣợc phân loại thành làng một nghề, làng nhiều nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề mới… - Làng một nghề là những làng ngoài nghề nông ra chỉ còn thêm một nghề thủ công nghiệp duy nhất chiếm ƣu thế tuyệt đối [7].
Ví dụ: làng gốm Bát Tràng, giấy Dƣơng ổ… - Làng nhiều nghề là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số nghề thủ công nghiệp sản xuất nhƣ ở làng Ninh Hiệp, Đình Bảng… [7]. - Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn tại hàng trăm thậm chí hàng nghìn năm [7]. - Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan toả của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng [7]. Tổng quan làng nghề Việt Nam 1.
Lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm đƣợc sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thƣơng phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dƣ thừa lúc nông nhàn. Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm, song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nƣớc. Ví dụ nhƣ làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nƣớc (Đà Nẵng) cũng đã hình thành 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách đây hơn 400 năm,… [1].
Nếu đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc của các sản phẩm từ các làng nghề đó, có thể thấy rằng hầu hết các sản phẩm này ban đầu đều đƣợc sản xuất để phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là công cụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu đƣợc làm trong lúc nông nhàn. Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trƣớc đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công mà còn là điểm văn hóa của khu vực, của vùng. Làng nghề là nơi hội tụ những thợ thủ công có tay nghề cao mà tên tuổi đã gắn liền với sản phẩm trong làng.
Ngoài ra, làng nghề cũng chính là điểm tập kết nguyên vật liệu, là nơi tập trung những tinh hoa trong kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng. Các mặt hàng sản xuất ra không chỉ để phục vụ sinh hoạt hàng ngày mà còn bao gồm các sản phẩm mỹ nghệ, đồ thờ cúng, dụng cụ sản xuất,…nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trƣờng khu vực lân cận. Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trƣờng, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu đƣợc tạo điều kiện phát triển. Quá trình công nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất tại các làng nghề đã làm tăng mức thu nhập bình quân của ngƣời dân nông thôn, các công nghệ mới đang ngày đƣợc áp dụng phổ biến.
Các làng nghề mới và các cụm làng nghề không ngừng đƣợc khuyến khích phát triển nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn. Do ảnh hƣởng của nhiều yếu tố khác nhau nhƣ vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, mật độ phân bố dân cƣ, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân bố và phát triên làng nghề giữa các vùng của nƣớc ta là không đồng đều, Thƣờng tập trung vào những khu vực nông thôn đông dân cƣ nhƣng ít đất sản xuất nông nghiệp, nhiều lao động dƣ thừa lúc nông nhàn. Trên cả nƣớc, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là ở Miền Trung (chiếm khoảng 30%) và Miền Nam (khoảng 10%) [1]. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số dạng nhƣ sau: - Theo làng nghề truyền thống và theo làng nghề mới - Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm - Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ - Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm - Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu - Theo thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp.
Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trƣờng làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động khác nhau đối với môi trƣờng. Dựa trên các yếu tố tƣơng đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trƣờng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nƣớc ta ra thành 6 nhóm ngành nghề chính (hình 1), mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ. Mỗi nhóm ngành làng nghề có các đặc điểm khác nhau về hoạt động sản xuất sẽ gây ảnh hƣởng khác nhau tới môi trƣờng. Hình 1: Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất Thủ công mỹ nghệ Tái chế phế liệu 15% 5% 39% Chế biến lƣơng thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ Dệt nhuộm, ƣơm tơ, thuộc 17% da 20% 4% Các nghề khác Vật liệu xây dựng, khai thác đá (Nguồn: Tổng cục môi trƣờng tổng hợp 2008) 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.