ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay con người đang có xu hướng quay trở về với cây thuốc và thuốc có nguồn gốc tự nhiên hơn là hóa chất làm thuốc (Lê Trần Đức, 1997); (Lê Khúc Hạo và cs. Xu hướng này đã tác động đến việc sản xuất, thu hái, chế biến, lưu thông, tiêu thụ, sử dụng và đặc biệt là công tác nghiên cứu về phát triển dược liệu và đông dược ở Việt Nam (Nguyễn Thượng Dong, 2006). Trong số đó, Chè dây là một loại cây có giá trị về mặt dược liệu rất quý: giúp tiêu hóa tốt, dễ ngủ, có tác dụng chữa bệnh dạ dày, tá tràng, giúp cho bệnh loét dạ dày liền sẹo… Chè dây hay bạch liễm (danh pháp: Ampelopsis cantoniensis) là một loài thực vật hai lá mầm trong họ Nho. Loài này được (Hook.
Koch miêu tả khoa học đầu tiên năm 1853, còn gọi là Thau rả (tiếng Nùng), Khau rả (tiếng Tày), Hồng huyết long, Điền bổ trà, Ngưu khiên tỵ,… Chè dây sinh trưởng tự nhiên trên các triền núi tại các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Lai Châu,… Kết quả phân tích thành phần của Chè dây cho thấy, đó là một loại dược liệu giàu chất flavonoid toàn phần chiếm 18,15±0,36% trong đó myricetin chiếm 5,32±0,04% và tanin (10,82 - 13,30%); chứa 2 loại đường Glucase và Rhamnese. Kết quả nghiên cứu về tính an toàn cho thấy, thành phần hóa học của Chè dây không có những nhóm chất thường có độc như: alcaloid, saponin,… (Phùng Thị Vinh, 1995). Chè dây có tác dụng diệt vi trùng, vi khuẩn, giảm độ axit tại dạ dày, giúp cho bệnh viêm loét dạ dày tá tràng dễ liền sẹo; cắt cơn đau do viêm loét hành tá tràng đạt 93,4%, với Alusi (loại thuốc chuyên trị bệnh viêm loét hành tá tràng hiện nay) là 89%, thời gian cắt cơn đau trung bình của Chè dây từ 8 đến 9 ngày, và Alusi là 17 ngày (Phạm Thanh Kỳ, 2001). Với khí hậu thuận lợi cho phát triển cây dược liệu của tỉnh Lào Cai, thời gian qua tỉnh Lào Cai luôn quan tâm đến phát triển vùng dược liệu và chế biến dược liệu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Thông báo Kết luận số 220/TB-VPCP ngày 12/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị toàn quốc về phát triển dược liệu Việt Nam.
Chính phủ đồng ý cho tỉnh Lào Cai làm thí điểm một số cơ chế phát triển dược liệu, y dược cổ truyền. 1 Đặc biệt, Sa Pa là vùng có khí hậu rất phù hợp cho việc phát triển các loài cây dược liệu, nơi có nhiều người dân thuộc các dân tộc thiểu số, những người mà cuộc sống của họ chủ yếu gắn bó vào nguồn tài nguyên rừng. Vì thế, việc phát triển các loài cây ngắn ngày nói chung và cây dược liệu nói riêng nhanh cho sản phẩm nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân tộc thiểu số và người nông dân nói chung là vấn đề quan trọng và cần thiết (Trần Quốc Toản, 2005). Trong đó Chè dây là một trong những loại cây dược liệu quý, có nhiều tác dụng như chữa bệnh viêm loét dạ dày, đại tràng, mát gan, giải nhiệt, giải độc trong cơ thể, xuất hiện ở các vùng núi thuộc Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai (Vương Thị Hồng Vân, 2002).
Nhưng nguồn dược liệu này đang ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức mà thiếu sự bảo tồn. Trong khi đó, nuôi trồng và khai thác dược liệu ở nước ta hiện nay còn tự phát, quy mô nhỏ, chưa có định hướng phát triển nên dẫn đến sản lượng dược liệu không ổn định, giá cả biến động. Để nâng cao giá trị làm thuốc cũng như có nguồn dược liệu bền vững cung cấp cho thị trường cần chú trọng trong công tác giống, kỹ thuật trồng cũng như vận động người dân thực hiện tốt quy trình sản xuất Chè dây. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi thực hiện đề: “Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số mẫu giống Chè dây và ảnh hƣởng của công thức phân bón đến năng suất của cây Chè dây (Ampelopsis cantoniensis) (Hook.et Arn) Planch tại huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai”.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích nghiên cứu Đánh giá được đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển và năng suất dược liệu của cây Chè dây (Ampelopsis cantoniensis) làm cơ sở góp phần xác định giống Chè dây phù hợp làm dược liệu. Xác định được tỷ lệ và liều lượng phân bón phù hợp bón cho cây Chè dây góp phần hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc cây Chè dây tại huyện Sa Pa – tỉnh Lào Cai. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả của luận văn sẽ góp phần bổ sung làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy về cây Chè dây. Ý nghĩa thực tiễn Đây là công trình nghiên cứu có tính ứng dụng cao góp phần tuyển chọn giống và hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc cây Chè dây phục vụ sản xuất dược liệu cho ngành công nghiệp dược. Ứng dụng những kết quả nghiên cứu về dược học, từ dược liệu Chè dây trong nước, Công ty Traphaco đã thành công với chế phẩm “Ampelop”, dùng chữa viêm loét dạ dày và hành tá tràng có hiệu quả. Cành mang hoa, ảnh nhỏ góc trái là Hình 1.
Hộp thuốc cành mang quả già sản xuất từ Chè dây Ampelop 1. PHẠM VI GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI Đề tài thực hiện trên các mẫu giống Chè dây thu thập tại một số tỉnh phía Bắc, trồng tại huyện Sa Pa tỉnh Lào cai. Thí nghiệm phân bón thực hiện trên giống Chè dây Sa Pa. Thời gian thực hiện Thí nghiệm nghiên cứu giống từ tháng 2/2017 đến tháng 12/2017.
Thí nghiệm phân bón thực hiện trong Vụ Thu năm 2017. Đề tài chưa có được số liệu về phân tích mẫu đất tại địa bàn nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. GIỚI THIỆU CHUNG 2.
Nguồn gốc xuất xứ, phân bố cây Chè dây Chè dây có tên khoa học là Ampelopsis cantoniensis (Hook.et Arn) Planch. Theo hệ thống phân loại Takhtajan 1987 (Bộ môn thực vật, 1997), thuộc ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta), lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida), bộ Nho (Vitales), họ Nho (Vitaceae), chi Ampelopsis, loài: Ampelopsis cantoniensis và có tên đồng nghĩa là: Cissus cantoniensis Hook. Từ năm 1987, hai họ này được tách ra và lập thành bộ Nho (Vitales). Trong Flore générale de r Indochine, họ Nho mang tên Latin là Ampelidaceae (Bộ môn thực vật, 1997; Phạm Hoàng Hộ, 1999).
Chè dây còn có một số tên gọi khác là: Thau rả (tiếng Nùng), Khau rả (tiếng Tày), Hồng huyết long, Điền bổ trà, Ngưu khiên tỵ, Bạch liễm, Song nho quảng đông, Trà dây. Chi Ampelopsis Michx không rõ có bao nhiêu loài trên, chỉ biết rằng ở Ấn Độ và Trung Quốc có 5 - 6 loài được mô tả. Ở Việt Nam có tác giả ước tính tới 5 loài (Nguyễn Tiến Bân, 2005). Trong đó, cây Chè dây là loài được dùng làm thuốc.
Loài này còn có ở một số tỉnh phía nam Trung Quốc, Lào, Ấn Độ và Indonesia. Theo Võ Văn Chi (1997), Võ Văn Chi (1999), Từ điển bách khoa dược học (1999), Viện Dược liệu (2004), (Đỗ Huy Bích và cs., 2004) và Đỗ Tất Lợi (2004) Chè dây có ở một số tỉnh phía nam Trung Quốc, Lào, Ấn Độ và Indonesia. Ở Việt Nam, Chè dây phân bố ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Sau đó được phát hiện thêm ở nhiều điểm như Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ (Hà Giang); Hương Khê (Hà Tĩnh); Trà My (Quảng Nam); Đak Tô, Konplông (Kon Tum); K’Bang (Gia Lai) và một số điểm khác ở Nghệ An, Lâm Đồng và Đồng Nai.
Chè dây là cây ưa ẩm, ưa sáng, có thể mọc trên nhiều loại đất khác nhau. Cây thường leo trùm lên những cây gỗ nhỏ và cây bụi ở ven rừng ẩm, rừng tái sinh trên đất sau nương rẫy, độ cao phân bố từ 600 m đến 1600 m. Cây ưa khí hậu mát và ẩm ở vùng núi; tái sinh tự nhiên bằng hạt và mọc chồi sau khi bị cắt (Đỗ Huy Bích và cs. Đặc điểm thực vật học cây Chè dây Theo Lecomte (Lecomte, 1921), loài Ampélopsis cantoniensis Planch, chính là loài Cissus cantoniensis Hooker et Am (Cissus deversifolia Walp).
Theo Đỗ Huy Bích và cs. (2004) Chè dây (Ampelopsis cantoniensis) có dạng dây leo bằng tua cuốn, sống nhiều năm; thân non có màu xanh, thân già màu nâu, thường leo lên các bụi rậm, cây to khác, hoặc mọc bò lan trên mặt đất, tua cuốn mọc đối với lá, đầu chẻ đôi. Từ điển bách khoa dược học (1999) và Viện Dược liệu (2004), mô tả cây Chè dây như sau: Cây leo. Thân và cành cứng, hình trụ, có lông nhỏ.
Tua cuốn chẻ đôi, mọc đối diện với lá. Lá kép lông chim, mọc so le, có 7-13 lá chét có cuống, hình trái xoan, dài 2,5 - 7,5 cm, rộng 1,5-5 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép có ít răng cưa, nhẵn, mặt trên lá khi khô có những vết trắng loang lổ như bị nấm mốc, mặt dưới rất nhạt; lá kèm khô xác. Cụm hoa mọc đối diện với lá thành ngù phân nhiều nhánh, rộng 3 - 6 cm; hoa nhiều màu trắng; đài hoa hình chén, có lông mịn, 5 răng ngắn; tràng có 5 cánh, mép hơi nhăn; nhị 5, chỉ nhị mảnh; bầu hình nón, nhẵn, có 2 ô, mỗi ô 2 noãn. Quả mọng, khi chín màu đen; hạt 3-4, thót lại ở gốc.
Phạm Hoàng Hộ (1999), Võ Văn Chi (1997) và Võ Văn Chi (1999) ghi: Dây leo, cành hình trụ mảnh, tua cuốn đối diện với lá, chia 2- 3 nhánh. Lá hai lần kép, mang 7 - 12 lá chét mỏng, giòn, mép có răng thấp; gân bên 4 - 5 đôi; lá kèm gần tròn, dạng vẩy. Ngù hoa đối diện với lá có 3 - 4 nhánh; nụ hoa hình trứng; hoa mẫu 5. Quả mọng hình trái xoan to 6x5 mm, màu đen, chứa 3 - 4 hạt.
Lá kép lông chim 1-3 lần, mọc so le, có cuống; lá chét hình xoan hay hình mác, kích thước 2-5 × 1,5-2,5 cm, đầu nhọn, mép xẻ răng cưa to; mặt trên lá xanh, mặt dưới có phấn trắng (Lê Đình Bích và Trần Văn Ơn, 2005). Cụm hoa ngù, phân nhánh, mọc đối diện với lá, cuống cụm hoa nhẵn, dài 3 – 10 cm. Nụ lúc non tròn, sau gần hình trứng. Hoa nhỏ, màu trắng ngà; đài 5; hợp ở gốc tạo thành hình chén, có lông mịn; 5 cánh hoa, mép hơi nhẵn; 5 nhị, chỉ nhị mảnh, bao phấn lõm ở đầu, trung đới màu nâu; có đĩa mật, mép đĩa mật hơi dày; bầu hình nón, nhẵn, 2 ô, mỗi ô có 2 noãn.