CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁCH TIẾP CẬN NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH VỚI KHÍ HẬU 1. An ninh lương thực và Biến đổi khí hậu - Những thách thức đối với nông nghiệp Nông nghiệp và các hệ thống sản xuất lương thực cần phải cải thiện và đảm bảo ANLT, để làm được điều đó chúng cần phải thích ứng với BĐKH cũng như góp phần giảm nhẹ BĐKH. Những thách thức này đang được liên kết với nhau và cần phải được giải quyết liên tục (FAO, 2013). Bảo đảm an ninh lương thực Thế giới đang sản xuất đủ lương thực nhưng trong giai đoạn 2010-2012 vẫn có gần 870 triệu người thiếu ăn (FAO và ctv, 2012).
Thêm vào đó, 1 tỷ người khác bị suy dinh dưỡng, thiếu những vi chất cần thiết. Mâu thuẫn là trong cùng một thời điểm, phần lớn dân số - chủ yếu là ở những nước giàu - dư thừa dinh dưỡng, gây nên những vấn đề sức khoẻ lâu dài và 60% những người suy dinh dưỡng thực tế là các nhà sản xuất lương thực, các nông hộ. Với những người sản xuất nghèo, lương thực không chỉ là nhu cầu cơ bản mà nó còn là thứ duy nhất giúp họ duy trì sinh kế. Có 32 nước, 20 trong số đó ở châu Phi, đối mặt với khủng hoảng lương thực và cần sự hỗ trợ quốc tế khẩn cấp.
Ở hầu hết những nước này, nông nghiệp là một phần quan trọng, nếu không nói là chủ yếu, của nền kinh tế. Từ nay đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng thêm 1/3. Hầu hết trong số 2 tỷ người này sẽ sống ở những nước đang phát triển. Trong khi đó, nhiều người sẽ sống ở thành phố hơn (70% so với 50% hiện tại).
Toàn cầu hoá và tăng thu nhập ở những nước đang phát triển đang dẫn đến sự tăng tiêu dùng các sản phẩm động vật (FAO, 2009a). Ngoài những xu thế trên, FAO ước tinh sản xuất nông nghiệp phải tăng 60% vào năm 2050 để đáp ứng nhu cầu lương thực và thức ăn. Nhu cầu nhiên liệu sinh học, một nhân tố quan trọng khác cho thị trường toàn cầu, rất phụ thuộc vào các chính sách quốc gia và được cho là sẽ tăng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo định nghĩa về ANLT tại Hội nghị thượng đỉnh về lương thực thế giới năm 1996, ANLT tồn tại khi tất cả mọi người, ở mọi thời điểm có khả năng tiếp cận với lương thực (cả về tự nhiên và kinh tế) đủ an toàn và dinh dưỡng đáp ứng các nhu cầu bữa ăn và sở thích lương thực cho một cuộc sống năng động và khỏe mạnh.
Từ định nghĩa này có thể nhận dạng 4 chiều cạnh chính của ANLT: - Sự sẵn có tự nhiên của lương thực: Sự sẵn có lương thực giải quyết mặt cung ứng của khái niệm ANLT và được xác định bởi mức độ sản xuất lương thực, các cấp độ dự trữ và mạng lưới thương mại; - Tiếp cận kinh tế và tự nhiên với lương thực: Một sự cung ứng lương thực phù hợp ở cấp độ quốc gia và quốc tế không tự nó đảm bảo ANLT ở cấp độ hộ gia đình, những mối quan tâm về khả năng tiếp cận không hợp lý đã dẫn đến một sự tập trung chính sách lớn hơn đến thu nhập, chi tiêu, thị trường và giá cả để đạt được các mục tiêu ANLT; - Sử dụng lương thực: Sử dụng thường được hiểu là cách mà cơ thể tạo ra hầu hết các chất dinh dưỡng khác nhau từ lương thực. Sự hấp thụ năng lượng và dinh dưỡng phù hợp bởi mỗi người là kết quả của các thực hành chăm sóc và ăn uống tốt, chuẩn bị lương thực, sự đa dạng hóa bữa ăn và sự phân phối lương thực trong hộ gia đình. Kết hợp với việc sử dụng lương thực sinh học, điều này sẽ xác định hiện trạng dinh dưỡng của cá nhân; - Sự ổn định của các chiều cạnh trên theo thời gian: Kể cả nếu sự hấp thụ lương thực của con người phù hợp hàng ngày, một người vẫn có thể bị xem là bất ANLT nếu không được tiếp cận phù hợp với lương thực hàng ngày. Các điều kiện thời tiết bất lợi, sự bất ổn chính trị hoặc các nhân tố kinh tế (thất nghiệp, tăng giá lương thực) có thể có tác động đến hiện trạng ANLT.
Với mục tiêu là đảm bảo ANLT trên toàn thế giới, việc đảm bảo sự sẵn có lương thực và sự phù hợp trong sản xuất toàn cầu là chưa đủ, chúng ta cũng cần đảm bảo đủ lương thực mà mọi người đều có khả năng tiếp cận ở bất cứ nơi nào, cả về tự nhiên và kinh tế. Thêm vào đó, chúng ta cần đảm bảo rằng lương thực này được sử dụng phù hợp với đúng chất lượng và sự đa dạng. Do đó cần phải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thưởng xuyên đảm bảo 3 hợp phần ANLT&: sự sẵn có, khả năng tiếp cận và sử dụng. Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp BĐKH đã có những tác động đáng kể đến nông nghiệp và được cho là sẽ tác động nhiều hơn một cách trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất lương thực.
Sự tăng nhiệt độ trung bình, những thay đổi trong chế độ mưa, tăng các dao động của nhiệt độ và phân bố mưa, thay đổi sự sẵn có của nước, nhiễu động trong các hệ sinh thái (HST) sẽ có những tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Sự tăng cường của những tác động này sẽ phụ thuộc không chỉ vào cường độ và thời gian của những thay đổi mà còn vào sự kết hợp của chúng trong điều kiện địa phương. Việc dự đoán phù hợp những tác động của BĐKH đến nông nghiệp cần dữ liệu, công cụ và mô hình ở quy mô không gian phù hợp với diện tích sản xuất thực tế. Những tác động của BĐKH sẽ có những ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp với sự giảm sản xuất ở vùng này nhưng lại sẽ làm tăng sản xuất và mở rộng canh tác cây trồng ở vùng khác.
Nói rộng hơn, BĐKH có thể sẽ làm tăng trong cả sản lượng trồng trọt và chăn nuôi ở những vùng vĩ độ trung bình đến cao (IPCC, 2007a) và sự giảm ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các vùng bị ảnh hưởng nhiều nhất là các nước bị tổn thương kinh tế vốn đã ở trong tình trạng bất ANLT và một số nước xuất khẩu lương thực quan trọng. Điều này sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể trong thương mại, tác động đến giá và hiện trạng mạng lưới nhập khẩu lương thực. Do đó, BĐKH được cho là sẽ tăng khoảng cách giữa những nước phát triển và đang phát triển như là kết quả của những tác động ngày càng khắc nghiệt ở những vùng đang phát triển vốn đã bị tổn thường, cùng với năng lực kỹ thuật và kinh tế tương đối thấp để ứng phó với những mối đe doạ mới (Padgham, 2009).
Về mặt tác động, cần thiết phải phân biệt giữa sự gia tăng các dao động và những thay đổi xuất hiện chậm. Các tác động tiềm tàng của sự gia tăng các dao động thường ít được nhấn mạnh hơn những thay đổi xuất hiện chậm vì nhiều lý do. Những tác động của sự gia tăng các dao động được đặt giữa nhóm cực trị và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhóm dao động thực tế. Một hiện tượng cực đoan chính xác là gì? Điều gì làm cho một hiện tượng được xem là cực đoan? Đó có phải là cường độ, tần suất của một hiện tượng khí tượng? Với nông nghiệp, một sự thay đổi nhỏ với nhiệt độ ở giai đoạn mấu chốt của sự sinh trường cây trồng có thể đe doạ đến năng suất, sản lượng.
Do đó, việc phân biệt giữa 2 nhóm tác động này là quan trọng để nhấn mạnh 2 cách thích ứng, với các khoảng thời gian khác nhau: tăng sức chống chịu cho những dao động mạnh hơn và tăng năng lực thích ứng và phòng ngừa cho những thay đổi xuất hiện chậm. Hơn nữa, việc chuẩn bị cho sự tăng các dao động cũng là một cách chuẩn bị cho bất cứ sự thay đổi nào khác. Tác động của nông nghiệp đến biến đổi khí hậu Ngành nông nghiệp phải sản xuất nhiều lương thực hơn và nó sẽ chịu những tác động nhất định do BĐKH. Là một phần thiết yếu của kinh tế, nó cũng được kêu gọi đóng góp vào việc giảm nhẹ BĐKH (UNFCCC, 2008).
Câu hỏi đặt ra là các hệ thống nông nghiệp và lương thực có thể đóng góp vào giảm nhẹ BĐKH như thế nào mà không ảnh hưởng đến ANLT&DD. Vào năm 2005, nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) chiếm 13,5% lượng phát thải KNK toàn cầu (IPCC, 2007b). Con số này dựa trên các hoạt động diễn ra trên đồng ruộng và chăn nuôi. Nhưng vai trò của nông nghiệp trong BĐKH và đặc biệt là tiềm năng giảm nhẹ của nó cần được xem xét ở phương diện rộng hơn là các hệ thống lương thực.
Chúng bao gồm tác động của các hệ thống này đến rừng, năng lượng và giao thông. Mở rộng sự quan tâm về vai trò của nông nghiệp trong BĐKH là hợp lý vì một vài trong số các loại hình phát thải nông trại không nằm trong số 13.5% nhưng được nhóm vào các lĩnh vực khác như điện năng được sử dụng trong các công trình ở nông trại và nhiên liệu sử dụng trong các thiết bị nông trại và vận chuyển lương thực. Nông nghiệp cũng là một nguyên nhân chính của việc phá rừng, được tính đến 17% phát thải KNK toàn cầu (IPCC, 2007b). Đó là lý do tại sao nông nghiệp nằm trong những nghiên cứu về các nguyên nhân phá rừng được yêu cầu bởi COP 17.
Cuối cùng, trong các hệ thống lương thực, việc giảm phát thải ở một số lĩnh vực này có thể dẫn đến tăng ở lĩnh vực khác. Ví dụ, dựa vào hiệu quả của các hệ thống sản xuất, các chuỗi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lương thực ngắn hơn có thể giảm chi phí vận tải nhưng lại tăng phát thải trong nông nghiệp. Do đó, khi nhìn nhận những thách thức và cơ hội giảm phát thải KNK từ nông nghiệp, cần thiết phải đánh giá ngoài nông trại, theo toàn bộ chuỗi lương thực và qua quá trình sử dụng đất. Các nguồn phát thải KNK trực tiếp trong ngành nông nghiệp không chỉ là CO2.
Nông nghiệp là một nguồn N2O, chiếm 58% tổng phát thải, chủ yếu từ đất và thông qua sử dụng phân bón và CH4, chiếm 47% tổng phát thải, chủ yếu từ chăn nuôi và canh tác lúa. Những nguồn này phụ thuộc vào các quá trình tự nhiên và hoạt động nông nghiệp - làm cho chúng thêm khó kiểm soát và đo lường.