ĐẶT VẤN ĐỀ Sự sinh trƣởng phát triển của thực vật bao gồm hàng loạt các hoạt động sinh lý xảy ra nhƣ sự hấp thu nƣớc và chất dinh dƣỡng, sự tổng hợp và chuyển hóa các chất hữu cơ, sự quang hợp hô hấp…dẫn đến kết quả hạt nẩy mầm, cây lớn lên, ra hoa kết quả rồi già cỗi và chết đi. Trong tất cả các hoạt động sinh lý giúp cây sinh trƣởng và phát triển thì sự hấp thu nƣớc đóng một vai trò vô cùng quan trọng giúp cây có thể sinh trƣởng và phát triển một cách tốt nhất. Nói đến sự hấp thu nƣớc hay còn gọi là nhu cầu sử dụng nƣớc của cây ta không thể không nhắc đến hiện tƣợng bốc hơi và thoát hơi nƣớc, đây là 2 thông số quan trọng nhất giúp chúng ta đánh giá đƣợc nhu cầu sử dụng nƣớc của cây trồng. Xã hội phát triển kèm theo đó là những mặt trái mà nó đem lại.
Trong đó con ngƣời là nhân tố chịu ảnh hƣởng lớn nhất từ những mặt trái đó nhƣ bệnh tật, ô nhiễm môi trƣờng, biến đổi khí hậu…đặc biệt là hậu quả bệnh tật, trong đó căn bệnh ung thƣ là 1 trong những căn bệnh cƣớp đi nhiều sinh mệnh mà con ngƣời chúng ta vẫn chƣa tìm ra đƣợc cách chữa trị triệt để nhất. Hiện nay trong các phƣơng thuốc hỗ trợ điều trị ung thƣ chúng ta sử dụng các cây thảo dƣợc có tác dụng chống lại căn bệnh này để đẩy lùi nó, trong đó cây Xạ Đen là 1 cây thuốc có tác dụng điều trị ung thƣ vô cùng hiệu quả. Từ những công dụng quý của cây Xạ Đen mà chúng ta thấy rằng cần bảo tồn và nhân giống loài cây này, vì vậy tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá nhu cầu sử dụng nước của cây Xạ Đen trong quy mô thí nghiệm” 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số đặc điểm của cây Xạ Đen và tác dụng của cây Xạ Đen 1.
Một số đặc điểm của cây Xạ Đen Xạ Đen (Celastrus hindsii) là loài thực vật thuộc họ Celastraceae. Chúng đƣợc George Bentham miêu tả đầu tiên năm 1851. Cây Xạ Đen còn có các tên gọi là bách giải, đồng triều, bạch vạn hoa, cây dây gối (thuộc chi cây Gối), hay quả nâu, hoặc cây ung thƣ (dân tộc Mƣờng, Việt Nam). Sự phân bố của cây Xạ Đen: Cây xạ đen đƣợc phân bố ở nhiều nƣớc nhƣ: Trung Quốc, Việt Nam, Myanmar, Thái Lan.Ở Trung Quốc, loại cây này thƣờng mọc ở độ cao từ 1.
Còn ở nƣớc ta, xạ đen phân bố chủ yếu tại các tỉnh Hà Nam, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hòa Bình, Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng, Vƣờn Quốc gia Ba Vì, Thừa Thiên-Huế, Gia Lai. Đặc biệt đƣợc tìm thấy nhiều nhất ở vùng Kim Bôi tỉnh Hòa Bình và cho chất lƣợng thuốc tốt nhất vì phù hợp với khí hậu nơi đây.1: Cây Xạ đen tỉnh Hòa Bình Đặc điểm thực vật học: Xạ đen thuộc loại cây dây leo thân gỗ, mọc thành búi, dễ trồng. Thân cây dạng dây dài 3-10m. Cành tròn, lúc non có màu xám nhạt, không có lông, sau chuyển sang màu nâu, có lông, về sau có màu xanh.
Phiến lá hình bầu dục xoay ngƣợc, thƣờng có 7 2 cặp gân phụ, bìa có răng thấp, mặt lá không có lông, lá không rụng theo mùa, cuống lá dài 5 - 7mm. Chùm hoa ở ngọn hay ở nách lá, dài 5 – 10 cm. Cuống hoa 2 - 4mm. Cánh hoa trắng, Hoa cái có bầu 3 ô.
Quả nang hình trứng, dài cỡ 1 cm, nổ thành 3 mảnh. Hạt có áo hạt màu hồng. Ra hoa tháng 3 - 5; ra quả tháng 8 - 12. Thành phần hóa học của cây Xạ đen: Đã phát hiện cây Xạ đen có Flavonoid, các polyphenol, tannin, acid amin, đƣờng khử, cyanoglycosid, saponin triterpenoid, alkaloid, Triterpene, diphenylpropane.Trong đó, flavonoid là chất chống oxy hóa có tác dụng phòng chống ung thƣ, saponin triterpenoid có tác dụng chống nhiễm khuẩn, diphenylpropane (ức chế sự phát triển của 4 loại tế bào ung thƣ khác nhau là ung thƣ vú, ung thƣ buồng trứng, ung thƣ phổi và ung thƣ gan…).
Công dụng của cây Xạ Đen Theo Đông y: Cây xạ đen có vị đắng chát, tính hàn, có tác dụng hữu hiệu trong điều trị mụn nhọt, ung thũng, tiêu viêm, giải độc, giảm tiết dịch trong xơ gan cổ chƣớng và đặc biệt trong chữa trị ung thƣ. Có tác dụng thông kinh lợi niệu. Cây dùng trị kinh nguyệt không đều, bế kinh, viêm gan, bệnh lậu, cầm máu vết thƣơng. Điều trị, ức chế và ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thƣ, tiêu hạch, tiêu độc, thanh nhiệt, mát gan, hành thủy, điều hòa hoạt huyết, giảm đau, an thần, tăng cƣờng sức đề kháng cho cơ thể.
Trong công trình nghiên cứu của GD.Lê Thế Trung, cây Xạ Đen dùng làm thuốc hỗ trợ điều trị ung thƣ vòm họng, ung thƣ gan, ung thƣ phổi, ung thƣ cổ tử cung, u nang buồng trứng, u sơ tử cung và các chứng bệnh ung thƣ khác. Dùng làm thuốc ngăn ngừa u bƣớu, điều trị các biến chứng do khối u và tiền ung thƣ. Điều trị các loại bƣớu, u lành (Bƣớu cổ, u mỡ). Dùng làm thuốc chống viêm, kháng khuẩn.Tác dụng ổn định huyết áp, đặc biệt là huyết áp cao.
Giải độc mát gan, hạ men gan và gan nhiễm mỡ, hỗ trợ điều trị xơ gan, viêm gan B. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã cảnh báo cho các ngƣời bệnh ung thƣ rằng, với tác dụng ức chế sự phát triển của khối u ác tính, cây xạ đen, với tƣ cách là một thực phẩm chức năng, chỉ có tác dụng hỗ trợ trong điều trị ung thƣ, hoàn toàn không phải là thuốc chữa khỏi căn bệnh này. Tất cả các báo cáo khoa học đều khẳng định, cây xạ đen chỉ có tác dụng làm tăng cƣờng hệ miễn dịch của cơ thể, ức chế tiến triển của tế 3 bào ung thƣ, không phải là thuốc có thể chữa khỏi ung thƣ. Tác dụng chính của cây xạ đen chính là làm hạn chế sự phát triển của các khối u trong cơ thể ngƣời bệnh.
Tổng quan nghiên cứu về nhu cầu sử dụng nƣớc của cây trồng trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tổng quan nghiên cứu về nhu cầu sử dụng nƣớc của cây trồng trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về chế độ thủy văn rừng cũng nhƣ tầm quan trọng của nƣớc đối với các hoạt động sống của thực vật rừng. Dựa vào những nghiên cứu đó ta hiểu đƣợc: Thoát hơi nƣớc là một quá trình tƣơng tự bay hơi. Nó là một phần của chu trình nƣớc trong cơ thể thực vật, và là sự mất hơi nƣớc từ các bộ phận của cây (tƣơng tự nhƣ đổ mồ hôi), đặc biệt xảy ra trong lá nhƣng cũng có trong thân cây, hoa và rễ.
Bề mặt lá có các khí khổng (lỗ khí), và ở hầu hết các loài, nó có nhiều hơn ở mặt dƣới của lá. Lỗ khí đƣợc bao bọc bởi các tế bào bảo vệ mở và đóng các lỗ. Thoát hơi nƣớc qua lá xảy ra qua các lỗ khí, và có thể coi là một "phí tổn" cần thiết liên quan đến việc mở các lỗ khí cho phép sự khuếch tán của khí cacbon điôxít từ không khí để quang hợp. Quá trình này cũng làm mát cây, làm áp suất thẩm thấu thay đổi, và cho phép lƣu thông các chất dinh dƣỡng, chất khoáng và nƣớc từ rễ đến chồi.
Dòng chất của nƣớc lỏng từ rễ đến lá đƣợc thúc đẩy một phần bởi hoạt động mao dẫn. Tuy nhiên, trong các cây cao, lực hấp dẫn chỉ có thể bị vƣợt qua bằng cách giảm áp lực thủy tĩnh (nƣớc) trong các bộ phận phía trên của cây do sự khuếch tán của nƣớc ra khỏi các lỗ khí vào khí quyển. Nƣớc đƣợc hấp thụ tại rễ bằng thẩm thấu dẫn các chất dinh dƣỡng khoáng chất hòa tan cùng theo, qua xylem (chất gỗ).Thực vật điều chỉnh tốc độ thoát hơi nƣớc thông qua mức độ mở lỗ khí. Tốc độ thoát hơi nƣớc cũng bị ảnh hƣởng bởi nhu cầu bay hơi của không khí xung quanh lá nhƣ độ ẩm, gió, nhiệt độ và ánh sáng mặt trời.
Sự cung cấp nƣớc của đất và nhiệt độ đất có thể ảnh hƣởng đến sự mở lỗ khí, và bằng cách ấy là tốc độ thoát hơi nƣớc. Lƣợng nƣớc bị mất của cây cũng phụ thuộc vào kích thƣớc của nó và số lƣợng nƣớc hấp thụ vào rễ. Thoát hơi nƣớc qua khí khổng chiếm phần lớn sự mất nƣớc của cây, nhƣng một số sự bốc hơi trực tiếp cũng diễn ra, thông qua lớp biểu bì của lá và cành non. Thoát hơi nƣớc làm mát cây do hơi nƣớc thoát ra mang theo nhiệt năng.
Năm 1990, Tổ chức Lƣơng Nông Thế giới (FAO), Hội Tƣới tiêu Quốc tế và Tổ chức Khí tƣợng Thế giới tổ chức một hội nghị để thống nhất phƣơng pháp xác định 4 lƣợng bốc thoát hơi của cây trồng. Các nhà khoa học (Doorenhos và Fruit, 1975) đã đƣa ra khái niệm lƣợng bốc thoát hơi tham chiếu (Reference evapotranspiration), viết tắt là ETo, để chỉ khả năng bốc thoát hơi thực vật theo một tiêu chuẩn hoặc điều kiện tham khảo. ETo là lƣợng nƣớc dùng để tƣới cho một cây trồng là cỏ chuẩn, trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật, phủ đều trên toàn bộ mặt đất và đƣợc cung cấp nƣớc đầy đủ theo một điều kiện tối ƣu. Phƣơng pháp xác định lƣợng bốc thoát hơi tham chiếu đƣợc FAO khuyến kích áp dụng chung cho toàn thế giới và đƣợc thể hiện qua tài liệu: “Crop evapotranspiration – Guidelines for computing crop water requirement – FAO Irrigation and Drainage Paper 56”.
Một số phƣơng pháp để xác định Eto: • Phƣơng pháp Thủy tiêu kế (Lysimeter) • Phƣơng pháp Penman – Monteith; • Phƣơng pháp Blaney – Crriddle; • Phƣơng pháp bốc hơi chậu A. Trong đó phƣơng pháp Phƣơng pháp Panman – Monteith xác định giá trị bốc thoát hơi là một hàm số phụ thuộc nhiều thông số thời tiết tại chỗ và chung quanh khu vực xem xét. Các thông số này đƣợc mô tả chi tiết trong tài liệu hƣớng dẫn tính toán của FAO Irrigation and Drainage Paper. 56: Guidelines for computing crop water requirement, (1985).
Tính giá trị bốc thoát hơi theo Panman – Monteith có phần mềm máy tính CROPWAT cho kết quả nhanh và tiện lợi hơn.