Tổng quan nghiên cứu

Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) là một trong những loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới, với quần thể lớn nhất khoảng 90 cá thể sinh sống tại vùng núi đá vôi Khau Ca, tỉnh Hà Giang. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca được thành lập trên tổng diện tích 2.024 ha, trong đó diện tích vùng lõi chiếm khoảng 1.000 ha, trải rộng trên địa giới hành chính của 3 xã gồm Tùng Bá (huyện Vị Xuyên), Yên Định và Minh Sơn (huyện Bắc Mê). Mặc dù khu vực sở hữu giá trị đa dạng sinh học đặc biệt, công tác bảo tồn lâu dài đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng khi có tới 34,9% số hộ dân thuộc diện nghèo đói và thu nhập từ lâm nghiệp chiếm tỷ trọng từ 12% đến 28% so với thu nhập nông nghiệp.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ các hoạt động sinh kế truyền thống như khai thác gỗ làm nhà, chăn thả gia súc, lấy củi, thu hái lâm sản phụ và đặt bẫy thú rừng, gây suy thoái sinh cảnh sống của loài linh trưởng quý hiếm này. Trong khi đó, các chương trình can thiệp giáo dục trước đây chỉ diễn ra ở quy mô hẹp tại xã Tùng Bá và chủ yếu hướng đến học sinh tiểu học. Đề tài hướng tới mục tiêu đánh giá toàn diện nhận thức, thái độ của cộng đồng dân cư tại 3 xã giáp ranh và xác định các cơ hội tham gia giáo dục bảo tồn của người dân. Nghiên cứu được triển khai tại 8 thôn bản trọng điểm trong khung thời gian từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để nâng tỷ lệ hiểu biết của cộng đồng lên trên 70% và hỗ trợ các nhà quản lý xây dựng chiến lược bảo tồn dựa vào cộng đồng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Giáo dục môi trường và Bảo tồn dựa vào cộng đồng theo các tiêu chuẩn quốc tế của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1970), Wigley (2000) và Matarasso (2004). Khung lý thuyết khẳng định giáo dục bảo tồn là một tiến trình có sự tham gia của người dân nhằm thay đổi nhận thức, kỹ năng và quy tắc ứng xử, từ đó chuyển hóa thành hành động bảo vệ đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, đề tài tích hợp thang đo thái độ với tự nhiên của Stephen Kellert nhằm lượng hóa hành vi sinh thái của các nhóm dân cư vùng đệm.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Giáo dục bảo tồn (GDBT) là hệ thống can thiệp truyền thông và đào tạo kỹ năng hướng đến mục tiêu thay đổi hành vi vì tài nguyên thiên nhiên; Giáo dục môi trường (GDMT) là quá trình dạy và học nhằm giải quyết các thách thức sinh thái thực tế; Cộng đồng địa phương là đơn vị xã hội cấp cơ sở gắn liền sinh kế với rừng; và Cơ chế Đồng quản lý là sự chia sẻ trách nhiệm quản lý tài nguyên giữa nhà nước và người dân. Thang đo nhận thức được thiết lập với tổng điểm tối đa 22 điểm, trong đó ngưỡng từ 11 điểm trở lên (đạt từ 50% tổng điểm) được xác định là mức nhận thức tốt và thái độ tích cực.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) làm phương pháp luận chủ đạo. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua 25 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với cán bộ thôn xã và 90 cuộc phỏng vấn cấu trúc bảng hỏi trực tiếp với người dân tại 8 thôn bản: Phia Đeng, Khuẩy Lòa (xã Minh Sơn); Bản Loan, Bản Bó, Nà Yến (xã Yên Định); Tin Tốc, Hồng Minh, Nà Lòa (xã Tùng Bá). Cỡ mẫu n = 90 được phân bổ đồng đều 30 mẫu cho mỗi xã, lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng đại diện cho các nhóm độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, giới tính (60 nam, 30 nữ), thành phần dân tộc (người Tày chiếm 58,7%, người Dao và nhóm khác) và nghề nghiệp.

Dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo dân sinh kinh tế của 1.791 hộ gia đình với 9.613 nhân khẩu và Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg về chuẩn nghèo. Tác giả lựa chọn phần mềm SPSS 13.0 và Excel để phân tích dữ liệu vì khả năng kiểm định thống kê suy luận chặt chẽ. Các kiểm định One-way ANOVA và Independent-Samples T-test được áp dụng để kiểm chứng sự khác biệt nhận thức giữa các nhóm nhân khẩu học với độ tin cậy 95% (mức ý nghĩa alpha = 0,05). Timeline nghiên cứu được thực hiện qua ba giai đoạn: khảo sát thực địa đợt 1 (26/12/2009 - 15/01/2010), khảo sát thực địa đợt 2 (28/02/2010 - 13/03/2010) và xử lý dữ liệu, hoàn thiện luận văn (15/03/2010 - 30/09/2010).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mặt bằng nhận thức chung của cộng đồng về tài nguyên rừng và công tác bảo tồn còn thấp, có sự chênh lệch lớn giữa hiểu biết môi trường tổng quát và hiểu biết về loài. Trong tổng số 90 đối tượng khảo sát, chỉ có 38 người (chiếm 42,22%) đạt nhận thức tốt, 25 người (chiếm 27,78%) ở mức trung bình và 27 người (chiếm 30,00%) ở mức kém. Trong khi 53,33% người dân nhận thức tốt về các thiên tai như hạn hán, lũ lụt thì chỉ có 14,44% có hiểu biết tốt về Khu bảo tồn Khau Ca và Voọc mũi hếch, với gần 100% người dân không biết thời điểm thành lập khu bảo tồn vào tháng 10 năm 2009.

Thứ hai, nhận thức và thái độ bảo tồn có sự khác biệt rõ rệt theo giới tính và dân tộc. Nam giới đạt điểm nhận thức trung bình là 10,05 điểm (45,00% xếp loại tốt), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ giới đạt 8,00 điểm (36,67% xếp loại tốt) với giá trị kiểm định T-test p = 0,047 nhỏ hơn 0,05. Về dân tộc, người Tày đạt điểm trung bình 10,00 điểm, vượt trội so với người Dao đạt 8,18 điểm (p = 0,020). Ngược lại, kiểm định ANOVA chỉ ra không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 xã (p = 0,384) và giữa các nhóm độ tuổi (p = 0,303).

Thứ ba, học vấn, thu nhập và nghề nghiệp chi phối mạnh mẽ đến nhận thức môi trường. Nhóm có trình độ từ cấp 3 trở lên có 80,00% đạt loại tốt, trong khi nhóm không đi học hoặc học cấp 1 chỉ đạt 11,36% (p = 0,000). Những người có thu nhập trên 10 triệu đồng/năm và nhóm cán bộ, giáo viên có điểm số nhận thức vượt trội hoàn toàn so với nhóm nông dân nghèo (p = 0,000).

Thứ tư, áp lực nhân sinh lên tài nguyên rừng vẫn rất phức tạp. Dù 100% người được hỏi không nhận có hành vi vi phạm, thực tế mỗi năm có khoảng 79 hộ làm nhà mới và 88 hộ sửa nhà có nhu cầu sử dụng gỗ, toàn vùng khai thác ước tính 4.000 kg dược liệu/năm để làm men rượu, và tại các thôn vẫn tồn tại từ 2 đến 3 khẩu súng săn cùng tình trạng bẫy bắt thú hoang dã.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch nhận thức giữa nam và nữ được lý giải bởi sự phân công lao động gia đình và rào cản ngôn ngữ. Phụ nữ dân tộc Dao thường phải làm việc trên nương rẫy xa và thu hái lâm sản cả ngày, ít có cơ hội tiếp cận với cán bộ hay phương tiện thông tin bằng tiếng phổ thông. Phát hiện này hoàn toàn phù hợp với công trình của Engels và Jacobson (2001) về bảo tồn loài linh trưởng Golden Lion-Tamarin ở Brazil và nghiên cứu của Rajakaruna (2009) về bảo tồn rùa biển tại Sri Lanka, nhưng có sự khác biệt với Padua (1994) khi cho rằng không có sự khác nhau về giới tính trong điều kiện tiếp cận thông tin đồng đều.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột so sánh tổng điểm nhận thức giữa ba xã: Yên Định (308 điểm), Tùng Bá (276 điểm) và Minh Sơn (271 điểm), kết hợp bảng kiểm định phương sai ANOVA. Kết quả giá trị p = 0,384 chứng minh khoảng cách địa lý từ xã đến thị xã Hà Giang không tạo ra khác biệt nhận thức, mà yếu tố quyết định chính là sự hiện diện của các chương trình can thiệp giáo dục thực tế tại từng thôn bản.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng và phổ biến chương trình truyền thông giáo dục bảo tồn song ngữ bản địa. Ban quản lý Khu bảo tồn Khau Ca chủ trì phối hợp với Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) biên soạn tài liệu truyền thông bằng tiếng Tày, tiếng Dao và tiếng Kinh, lồng ghép vào các buổi sinh hoạt thôn bản và trường tiểu học, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ người dân có hiểu biết tốt về Voọc mũi hếch từ 14,44% lên trên 70% trong giai đoạn 2011-2013.

Thứ hai, mở rộng quy mô và chuẩn hóa năng lực cho đội tuần rừng cộng đồng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 3 xã tuyển dụng thêm nhân lực địa phương, nâng tổng số thành viên đội tuần rừng từ 12 người lên 24 đến 30 người, đảm bảo 100% các thôn xung yếu đều có đại diện tham gia tuần tra và hưởng phụ cấp ổn định từ năm 2011 đến năm 2015.

Thứ ba, chuyển giao kỹ thuật và nhân rộng các mô hình sinh kế nông lâm nghiệp bền vững. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang cùng Phòng Nông nghiệp hai huyện Bắc Mê, Vị Xuyên triển khai hỗ trợ giống cỏ voi, kỹ thuật ủ phân vi sinh và chăn nuôi nhốt chuồng cho 100% hộ nghèo, nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 34,9% xuống dưới 20%, đồng thời quản lý hiệu quả 832,6 ha đất lâm nghiệp đã giao khoán đến năm 2015.

Thứ tư, thể chế hóa hương ước, quy ước thôn bản gắn liền với cơ chế giám sát khai thác tài nguyên. Ủy ban nhân dân 3 xã Yên Định, Minh Sơn và Tùng Bá cùng già làng, trưởng thôn ban hành quy chế giới hạn thu hái dược liệu dưới mức 4.000 kg/năm, kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép gỗ làm nhà tối đa 4 cây/hộ mới tách, thu hồi dứt điểm từ 2 đến 3 khẩu súng săn còn tồn đọng ở mỗi thôn bản định kỳ hàng quý từ năm 2011.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và các ban quản lý rừng đặc dụng tại tỉnh Hà Giang. Công trình cung cấp luận cứ thực tiễn để thiết lập chính sách giao khoán quản lý rừng, kiểm soát sinh cảnh và phân bổ nguồn lực tuần tra cho 1.791 hộ gia đình với 9.613 nhân khẩu vùng đệm.

Thứ hai, các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới bảo tồn thiên nhiên quốc tế như FFI, PanNature và WWF. Nghiên cứu mang lại bộ chỉ số xã hội học làm căn cứ thiết kế các dự án can thiệp cộng đồng, đặc biệt là chiến lược tiếp cận bình đẳng giới cho phụ nữ dân tộc Dao sống gần rừng.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học và Xã hội học nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về cách kết hợp phương pháp PRA với phân tích thống kê định lượng SPSS 13.0 để giải quyết bài toán xung đột tài nguyên.

Thứ tư, chính quyền địa phương cấp huyện và cấp xã tại vùng cao núi đá vôi. Các nhà quản lý cơ sở có thể ứng dụng trực tiếp bài học xây dựng hương ước thôn bản để cân bằng giữa mục tiêu xóa đói giảm nghèo và bảo tồn đa dạng sinh học tại 8 thôn bản điều tra.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nghiên cứu lại chọn Khu bảo tồn Khau Ca làm địa bàn nghiên cứu trọng điểm? Khu vực Khau Ca có diện tích 2.024 ha và là nơi duy nhất lưu giữ quần thể Voọc mũi hếch lớn nhất thế giới với khoảng 90 cá thể. Đây là trung tâm đa dạng sinh học có giá trị bảo tồn toàn cầu nhưng đang chịu áp lực lớn từ tỷ lệ hộ nghèo 34,9% của cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh.

Nguyên nhân nào khiến nhận thức bảo tồn của phụ nữ thấp hơn nam giới? Phụ nữ dân tộc Dao và Tày chịu gánh nặng lao động nương rẫy, ít tham gia hội họp thôn bản và bị hạn chế về khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông. Do đó, điểm nhận thức trung bình của nữ giới chỉ đạt 8,00 điểm so với 10,05 điểm của nam giới với mức ý nghĩa thống kê p = 0,047.

Vị trí địa lý giữa ba xã có tạo ra sự khác biệt về nhận thức bảo tồn không? Kết quả kiểm định One-way ANOVA cho thấy giá trị p = 0,384 lớn hơn 0,05, khẳng định không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 xã. Nhận thức của người dân đồng đều ở mức trung bình thấp do các can thiệp giáo dục bảo tồn trước đây chưa bao phủ toàn diện tới cả ba địa bàn.

Các hoạt động sinh kế nào đang đe dọa trực tiếp nhất đến sinh cảnh của loài Voọc? Các hoạt động khai thác gỗ phục vụ hơn 160 hộ sửa và làm nhà mới mỗi năm, thu hái 4.000 kg dược liệu làm men rượu và tình trạng đặt bẫy thú rừng là những mối đe dọa trực tiếp làm suy giảm diện tích rừng và phân mảnh sinh cảnh của quần thể linh trưởng.

Phương pháp PRA kết hợp xử lý thống kê SPSS mang lại giá trị khoa học gì? Phương pháp PRA thu thập dữ liệu định tính chuyên sâu từ 25 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc, trong khi phần mềm SPSS 13.0 xử lý 90 phiếu phỏng vấn giúp lượng hóa các mối tương quan nhân khẩu học với độ tin cậy 95%, đảm bảo tính khách quan và khoa học cho các khuyến nghị.

Kết luận

  • Thực trạng sinh thái: Quần thể 90 cá thể Voọc mũi hếch tại 2.024 ha Khu bảo tồn Khau Ca đang chịu sức ép nghiêm trọng từ tỷ lệ nghèo 34,9% và các tập quán khai thác tài nguyên truyền thống của người dân.
  • Đo lường nhận thức: Tỷ lệ người dân đạt nhận thức chung tốt là 42,22%, nhưng nhận thức chuyên biệt về khu bảo tồn và loài Voọc mũi hếch chỉ đạt mức rất thấp là 14,44%.
  • Kiểm chứng thống kê: Nghiên cứu đã chứng minh bằng số liệu định lượng sự khác biệt nhận thức theo giới tính, dân tộc, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập (p < 0,05), đồng thời xác nhận vị trí địa lý và lứa tuổi không tạo ra sự khác biệt (p > 0,05).
  • Giải pháp đồng bộ: Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi bao gồm truyền thông bản địa song ngữ, mở rộng đội tuần rừng lên 24-30 thành viên, phát triển sinh kế cỏ voi và siết chặt hương ước thôn bản quản lý 832,6 ha đất lâm nghiệp giao khoán.
  • Lộ trình hành động: Toàn bộ các can thiệp giáo dục bảo tồn và hỗ trợ kỹ thuật sinh kế cần được triển khai quyết liệt theo lộ trình từ năm 2011 đến năm 2015.

Để bảo tồn vĩnh viễn loài linh trưởng quý hiếm Voọc mũi hếch tại Khau Ca, các cấp chính quyền, tổ chức quốc tế và cộng đồng địa phương cần nhanh chóng chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành hành động thực tế, bảo đảm hài hòa giữa phát triển sinh kế bền vững và giữ gìn thiên nhiên nguyên vẹn cho tương lai.