Chương 1: Mở dau. Trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và tóm tắt bố cục. Chương 2: Tổng quan. Trình bày sơ lược một số tài liệu tham khảo liên quan và trình bày sơ lược về địa bàn nghiên cứu.
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu. Trình bày một số khái niệm, nội dung nghiên cứu chính của nhóm. Dua ra mô hình nghiên cứu mà phương pháp nghiên cứu mà nhóm sử dụng trong đề tải. Chương 4: Kết quả và thảo luận.
Trình bày, tổng hợp các kết quả và đưa ra một số ý kiến thảo luận thực tiễn dựa trên kết quả thu được. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tóm lược kết quả nghiên cứu từ đó đề xuất một số giải pháp giúp cải thiện. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2.
Tống quan tài liệu tham khảo 2. Tổng quan tài liệu tham khảo Đề tài nghiên cứu được tham khảo từ các tài liệu nghiên cứu trước đây liên quan đến thực phẩm sạch, đảm bảo VSATTP cũng như từ các tạp chi, báo cáo, luận văn về những đánh giá nhận thức và mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho thuộc tính an toàn của thực phẩm hay những loại thực phẩm sạch. Từ đó, nghiên cứu giúp đưa ra các đề xuất giải pháp dé đảm bảo van dé an toàn thực phẩm liên quan đến thực phâm đông lạnh an toan tại TP. HCM, tự bảo vệ sức khoẻ của bản thân và gia đình trong thời buổi phát triển như hiện nay.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm (CE) ở nước ngoài đã chỉ ra rằng, người tiêu dùng sẵn sang trả giá cao hơn cho thực pham hữu co (Renee và cộng sự, 2010; Schaeufele và Hamm, 2017). Một nghiên cứu về cà chua hữu cơ ở Albania (Skreli và cộng sự, 2017), một nghiên cứu về bạc hà hữu cơ ở Morocco (Faysse và cộng sự, 2017), một cuộc khảo sát về sữa chua hữu cơ ở Đức (Emberger-Klein và cộng sự, 2016) và một nghiên cứu về trứng hữu cơ ở Tây Ban Nha (Mesias và cộng sự, 2011), tất cả đều phát hiện ra rằng người tiêu ding có WTP cao hơn đối với thực phẩm hữu cơ. Cuộc khảo sát của Zhang và cộng sự (2018) ở Bắc Kinh cho thấy 65,8% NTD sẵn lòng trả giá cao cho rau hữu cơ. Sử dụng thử nghiệm lựa chọn, Olesen và cộng sự (2010) đã điều tra WTP của người tiêu dùng Na Uy đối với cá hồi hữu cơ và phát hiện ra rằng so với các sản phâm cá hồi thông thường , họ san sàng trả tiền cao hơn 15% (2 euro / kg) cho cá hồi hữu cơ.
Nhiều học giả đã tập trung vào sở thích của người tiêu dùng để truy xuất nguồn gốc thực phẩm. Matzembacher và cộng sự (2018) cho thay rằng thông tin có thé truy xuất nguồn gốc về 5 các sản phẩm thực phẩm, đặc biệt là liên quan đến kiểm soát dịch hại và đầu vào sản phẩm trung gian có thé cải thiện WTP của người tiêu dùng Brazil. Menozzi và cộng sự (2015) đã nghiên cứu ý định của người tiêu dùng Pháp và Y trong việc mua thực phẩm có thê truy xuất nguồn gốc và phát hiện ra rằng thói quen tiêu dùng, niềm tin, kinh nghiệm, điều kiện kinh tế, tuổi tác và các yếu tố khác của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng rất lớn đến WTP của họ cho thực phẩm truy xuất nguồn gốc. Yin và cộng sự (2017) đã khảo sát về sữa và cuộc khảo sát của Wu và ctv (2016) về thịt lợn cho thay người tiêu dung Trung Quốc sẵn sang tra giá cao hơn cho thông tin có thé truy xuất nguOn gốc trong giai đoạn canh tác.
Metref và Calvo-Dopico (2016) nhận thấy rằng sau khi ủng hộ người tiêu dùng tranh giành thông tin về lợi ích của việc truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng trong chuỗi thức ăn, họ có WTP cao hơn cho cá ngừ có chứa thông tin có thé truy xuất nguồn gốc. Shijiu Yin và cộng sự (2020) đã nghiên sở thích của NTD thành thị Trung Quốc đối với tôm thẻ chân trắng đã dán nhãn hữu cơ và truy xuất nguồn gốc, kết quả cho thấy người tiêu dùng ưa thích tôm có nhãn hữu cơ hoặc thông tin truy xuất nguồn gốc hơn. Shuvro Sen và cộng sự (2019) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc người tiêu dùng sử dụng thực phẩm đông lạnh, kết quả cho thấy giới tính; tuổi tác; trình độ học vấn; thu nhập gia đình; nghề nghiệp thê hiện tác động tích cực đến việc mua thực phẩm đông lạnh của NTD. Trong nước, phần lớn các nghiên cứu về thực phẩm an toàn đều sử dụng phương pháp đánh ngẫu nhiên (CVM) nhằm ước lượng WTP của NTD (Nguyễn Thị Minh và cộng sự, 2017; Mai Đình Quý và cộng sự, 2018).
Nhiều nghiên cứu cũng đã sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm (CE) và mô hình hóa lựa chọn (CM) dé tập trung vào nghiên cứu mức sẵn lòng trả của NTD cho các sản phẩm sạch an toàn, nghiên cứu về nhu cầu đối với sản phẩm rau thương hiệu sinh thái của người tiêu dùng ở Kiên Giang của Huỳnh Việt Khải và cộng sự (2022) cho thấy NTD sẵn sàng trả thêm tiền cho các thuộc tính của rau sinh thái, cụ thể, NTD đồng ý trả thêm 25.000 đồng/kg cải thảo có truy xuất nguồn gốc, khoảng 14.000 đồng/kg cho cải thảo có thương hiệu xanh và khoảng 13.000 đồng/kg cho thương hiệu cải thảo hữu cơ. Lê Thị Tuyết Thanh (2019) đã nghiên cứu về thông tin bất cân xứng và nhu cầu rau của NTD tại TP. HCM, kết quả đạt được thông tin tác động rất hạn chế đến nhu cầu RAT, WTP cho các thuộc tinh an toàn của rau và sự lựa chọn nơi mua rau, mặc dù trong một sô trường hợp, việc theo dõi thông tin ở tần suất vừa phải sẽ dẫn đến WTP cao hơn cho các thuộc tính an toàn ở rau. Ưu điểm Về phương pháp nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu đã sử dụng phương pháp mô hình hóa lựa chon (Choice Modeling — CM), phương pháp thực nghiệm lựa chon (Choice Experiment - CE), đánh giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method - CVM) để đánh giá mức sẵn lòng trả của NTD cho các thuộc tính an toàn của sản phẩm (thực phẩm, rau, sữa, trứng.
Ngoài ra, một số bài sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với xử lý số liệu để đánh giá nhận thức hiểu biết của NTD về vấn đề đảm bảo VSATTP trên địa bàn nghiên cứu. Về nội dung: Qua quá trình tổng hợp các quá trình nghiên cứu và bài báo cáo của các tác giả đã cho thấy mức sẵn lòng trả của NTD cho các thuộc tính an toàn được ảnh hưởng bởi các thuộc tính sau: Thứ nhất, thuộc tính nhãn mác và bao bì, NTD sẵn lòng trả giá cao hơn cho sản phẩm được đóng gói bao bì và dan nhãn mác cho chứa các thông tin về sản phẩm so với các sản phẩm không có đóng gói bao bì và nhãn mác thông tin sản phẩm. Thứ hai, thuộc tính truy xuât nguôn gôc, NTD ngày nay rât quan tâm đên việc truy xuât nguôn gôc xuât xứ cũng như quy trình sản xuât của sản phâm như thê nào, do đó NTD sẵn sàng bỏ ra một số tiền cao hơn dé mua các sản phẩm có khả năng truy xuất nguôn gôc hơn so với các sản phâm không có truy xuât nguôn gôc. Thứ ba, thuộc tính chứng nhận an toàn, NTD sẵn lòng trả giá cao hơn cho sản phẩm đã qua kiểm định về chất lượng và có chứng nhận an toàn so với các sản pham không có chứng nhận an toàn.
Thứ tư, thuộc tính nơi mua sản phẩm an toàn (chợ truyền thống và siêu thị), NTD sẵn lòng tra giá cao hon cho sản phẩm được bán trong siêu thị bởi tính an toàn và chat lượng được kiểm soát nghiêm ngặt hơn so với chợ truyền thống. Thứ năm, thuộc tính nhãn hiệu, NTD sẵn lòng trả giá cao hơn cho sản phẩm mang 7 nhãn hiệu sinh thái, hữu cơ so với sản phẩm thông thường. Hạn chế còn tồn tại Thứ nhất, các công trình nghiên cứu của các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu đánh giá mức sẵn lòng trả của NTD cho các thuộc tính an toàn của sản phẩm nhưng chưa xây dựng được giải pháp giải pháp đảm bảo an toàn thực phẩm liên quan đến sản phâm an toàn tại địa bàn nghiên cứu. Thứ hai, các công trình nghiên cứu trong nước chưa sử dụng phô biến phương pháp thực nghiệm lựa chon (CE) và phương pháp mô hình hóa lựa chọn (CM) dé đánh giá mức sẵn lòng trả của NTD cho các thuộc tính an toàn cho thực phẩm tại địa bàn nghiên cứu.
Kết luận Trên cơ sở kế thừa và vận dụng những ưu điểm cũng như biết rõ để khắc phục các hạn chế của những dé tài được tham khảo, tác giả đã có cái nhìn tong quan về đề tài nghiên cứu đang thực hiện. Nhận thấy, phương pháp nghiên cứu mô hình hóa lựa chọn (CM) là một công cụ mà các nhà kinh tế thường sử dụng để ước tính WTP và nó đặc biệt hữu ích khi xem xét nhiều thuộc tính (Hanley và cộng sự, 2001; Czajkowski và cộng sự, 2014). Trên thực tế, trong nước chưa có nghiên cứu nào sử dụng phương pháp mô hình hóa lựa chọn (CM) dé đánh giá nhận thức cũng như ước lượng mức sẵn lòng trả của NTD cho thuộc tính an toàn của sản phẩm. Do đó, tác giả đã quyết định thực hiện đề tài đánh giá mức sẵn lòng trả của NTD cho thuộc tính an toàn của tôm đông lạnh tại TP.
Trong đó, đề tài quyết định nghiên cứu các thuộc tính bao gồm nhãn hiệu (nhãn sinh thái và nhãn hữu cơ) nhằm xem xét NTD hiểu biết như thế nào giữa nhãn hiệu sinh thái, nhãn hiệu hữu cơ và tôm không mang nhãn hiệu như thế nào, NTD có quan tâm đến khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm không và chứng nhận an toàn của sản phẩm có ảnh hưởng ra sao đến quyết định chọn mua của NTD. Bởi vì cả nhãn hiệu, khả năng truy xuất nguồn gốc và chứng nhận an toàn đều cung cấp manh mối hữu ích về nhà sản xuất và san phâm của họ dé người tiêu dùng có thé đánh giá mức độ an toàn thực pham va chat lượng trong việc lựa chon sản pham cua ho. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 2. Đặc điểm vị trí địa lý Lãnh thổ thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý 10°22°33"- 11°22?17" vĩ độ bắc và 106°01’25" - 107°01°10" kinh độ đông với điểm cực bắc ở xã Phú Mỹ (huyện Cần Giờ), điểm cực tây ở xã Thái Mỹ (Củ Chi) và điểm cực đông ở xã Tân An (huyện Cần Giờ).