MỞ ĐẦU Hiện nay trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và môi trường (MT) toàn cầu đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng, bảo vệ môi trường (BVMT), đảm bảo tính bền vững của phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) đã trở thành nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của tất cả các quốc gia trên thế giới. Bảo vệ môi trường không phải là việc đối phó tức thời mà là việc làm lâu dài, dựa trên đường lối, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch được xây dựng một cách đúng đắn và thường xuyên được cập nhật và điều chỉnh. Đối với đất nước ta nói chung và các địa phương nói riêng vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường dưới tác động mạnh mẽ của các hoạt động sản xuất, kinh tế đã và đang là những vấn đề cấp thiết, đang được sự quan tâm của Nhà nước, Chính phủ, các Ban, Ngành của Trung Ương, các cấp lãnh đạo và đông đảo nhân dân các địa phương và nhất là sự quan tâm, đóng góp giải quyết, tìm ra các giải pháp phòng chống của nhiều nhà khoa học trong hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học cả tự nhiên và xã hội. Thái Bình là tỉnh có nhiều tiềm năng trong phát triển nông nghiệp.
Năm 2011, trong tổng diện tích đất tự nhiên là 157 nghìn ha, thì đất cho sử dụng nông nghiệp là 97,2 nghìn ha (chiếm tới 61,9% tổng diện tích đất tự nhiên) và thu hút gần 60% lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Đất đai ở đây khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sự phân bố đất đai giữa các huyện trong tỉnh tạo nên những nét khác biệt trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp của mỗi địa phương trong tỉnh. Thực tế, trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã giành được nhiều thắng lợi, tương đối toàn diện cả về trồng trọt, chăn nuôi và kinh tế biển. Nông nghiệp còn là đòn bẩy cho ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ,… phát triển tương đối mạnh cả về chất và lượng.
Bộ mặt nông thôn Thái Bình đã có nhiều khởi sắc đáng ghi nhận trong nhiều lĩnh vực kinh tế, đời sống, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp của tỉnh Thái Bình chưa bền vững do chịu tác động nhiều của các yếu tố khách quan, đặc biệt là các yếu tố môi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường, biến đổi khí hậu. Đời sống của nhân dân tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương của tỉnh ở một số cơ sở, địa phương còn mang tính hình thức chung chung, chưa quyết liệt.
Trên cơ sở đó, tác giả phát triển đề tài Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường “Đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình làm cơ sở khoa học cho định hướng phát triển nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu”, với mục tiêu nghiên cứu gồm: - Thu thập, tổng hợp, đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với môi trường tỉnh Thái Bình. - Thu thập, tổng hợp hiện trạng nông nghiệp tỉnh Thái Bình và đánh giá sự ảnh hưởng của môi trường và biến đổi khí hậu đối với ngành nông nghiệp của tỉnh Thái Bình. - Đề xuất một số định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.Tổng quan hƣớng nghiên cứu về hiện trạng môi trƣờng, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam 1.
Các hướng nghiên cứu về hiện trạng môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp bền vững Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn về môi trường: khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất đang nóng lên, mực nước biển đang dâng lên, sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các hệ sinh thái như rừng, đất ngập nước. đang bị co hẹp lại và phân cách nhau, tốc độ mất mát các loài ngày càng gia tăng, ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề, dân số tăng nhanh, sức ép của công nghiệp hóa và thương mại toàn cầu ngày càng lớn. Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng rõ ràng đến công cuộc phát triển của tất cả các nước trên thế giới và cả nước ta. Loài người đang phải đối mặt với thảm họa cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống bị ô nhiễm, nhiều bệnh tật mới xuất hiện và phát triển, thiên tai ngày càng nặng nề.
Tất cả những thảm họa đó và cả những hiện tượng bất thường về thời tiết trong những năm qua tại nhiều vùng trên thế giới đã gây tác hại vô cùng nghiêm trọng có nguyên nhân chính là do các hoạt động của con người.Khắc phục khủng hoảng môi trường chính là góp phần cải thiện và phát triển cuộc sống của con người. a)Hiện trạng diễn biến khí hậu trên thế giới Sự nóng lên toàn cầu là rất rõ ràng với những biểu hiện của sự gia tăng nhiệt độ không khí và qua đó là mức tăng mực nước biển trung bình toàn cầu. Theo báo cáo gần đây của WMO, năm 2010 là năm nóng nhất trong lịch sử. Ngoài ra, trong giai đoạn 2001 - 2010, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã cao hơn 0,5oC so với giai đoạn 1961 - 1990, mức cao nhất đối với bất kỳ giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc [1].
Theo số liệu của NOAA (Hoa Kỳ), tháng 6 năm 2010 được ghi nhận là tháng nóng nhất trên toàn thế giới kể từ những năm 1880, khi các quan trắc khí tượng được thực hiện một cách tương đối hệ thống. Sự tăng lên của nhiệt độ không khí dẫn đến suy giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu. Từ năm 1978 đến nay, lượng băng trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dương giảm khoảng 2,1 - 3,3% mỗi thập kỷ [33]. Và điều này đã được minh chứng rõ ràng thông qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu.
Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961 - 2003 đã dâng với tốc độ 1,8 - 0,5mm/năm, trong đó đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 - 0,12mm/năm và tan băng khoảng 0,70 - 0,50mm/năm [33]. Bên cạnh nhiệt độ tăng và mực nước biển dâng, con người cũng đã cảm nhận ngày càng rõ rệt về sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan. Hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn, các cơn bão trở nên mạnh hơn, nhiều đợt nắng nóng hơn; cường độ của những cơn bão và lốc nhiệt đới đã trở nên nghiêm trọng hơn. b)Hiện trạngdiễn biến khí hậu ở Việt Nam Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, hàng năm chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan như bão, lũ lụt, mưa lớn, nắng nóng, hạn hán,.
Có thể nói sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt, cực đoan chính là thách thức lớn nhất với Việt Nam hiện nay trong việc ứng phó với BĐKH. Tại Việt Nam, có khá nhiều bằng chứng về BĐKH. * Hiện tượng thay đổi nhiệt độ Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây. Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62oC, riêng giai đoạn (1985-2014) nhiệt độ tăng khoảng 0,42oC.
Tốc 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ tăng trung bình mỗi thập kỷ khoảng 0,10oC, thấp hơn giá trị trung bình toàn cầu 0,12oC/thập kỷ [2]. Theo thống kê trong 16 năm gần đây, số đợt nắng nóng hàng năm có xu thế tăng khá mạnh. Năm 2012 có tới 18 đợt nắng nóng, nhiều nhất trong giai đoạn này. Năm ít nhất là năm 1998 có 6 đợt.
Tuy nhiên, đây lại là năm có tổng số ngày nắng nóng lớn nhất giai đoạn, lên tới 132 ngày trong 6 đợt. Trong các đợt nắng nóng mạnh, nhiệt độ ở một số nơi lên tới trên 40oC. Các tỉnh ven biển Trung Bộ, nhất là Bắc Trung Bộ, là nơi có tần suất nắng nóng lớn nhất và gay gắt nhất ở Việt Nam. Ví dụ, đợt nắng nóng xảy ra từ ngày 12 - 16/6/1998 ở Tĩnh Gia - Thanh Hóa nhiệt độ lên tới 40,9oC, còn trong đợt nắng nóng từ ngày 07 - 31/7/1998 đã đo được nhiệt độ cao nhất tại Cửa Rào - Nghệ An là 41,2oC [22].
* Hiện tượng thay đổi lượng mưa Ở Việt Nam, xu hướng mưa lớn thường là hệ quả của một số hình thế, loại hình thời tiết như bão, ATNĐ, dải hội tụ nhiệt đới, front lạnh, đường đứt,. Khi có sự kết hợp của chúng sẽ gây nên mưa lớn trong một thời gian dài trên một phạm vi rộng. Trong thời kỳ 1958-2014, lượng mưa năm tính trung bình cả nước có xu thế tăng nhẹ. Trong đó, tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân; giảm vào các tháng mùa thu.
Nhìn chung, lượng mưa năm ở các khu vực phía Bắc có xu thế giảm (từ 5,8% ÷ 12,5%/57 năm); các khu vực phía Nam có xu thế tăng (từ 6,9% ÷ 19,8%/57 năm). Khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng lớn nhất (19,8%/57 năm); khu vực đồng bằng Bắc Bộ có mức giảm lớn nhất (12,5%/57 năm). Đối với các khu vực phía Bắc, lượng mưa chủ yếu giảm rõ nhất vào các tháng mùa thu và tăng nhẹ vào các tháng mùa xuân. Đối với các khu vực phía Nam, lượng mưa các mùa ở các vùng khí hậu đều có xu thế tăng; tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông (từ 35,3% ÷ 80,5%/57 năm) và mùa xuân (từ 9,2% ÷ 37,6%/57 năm) [2].
Thay đổi lượng mưa (%) trong 57 năm qua (1958-2014) ở các vùng khí hậu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, 2016 * Hiện tượng cực đoan Theo số liệu quan trắc thời kỳ 1961-2014, nhiệt độ ngày cao nhất (Tx) và thấp nhất (Tm) có xu thế tăng rõ rệt, với mức tăng cao nhất lên tới 1oC/10 năm. Số ngày nóng (số ngày có Tx ≥35oC) có xu thế tăng ở hầu hết các khu vực của cả nước, đặc biệt là ở Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên với mức tăng phổ biến 2÷3 ngày/10 năm, nhưng giảm ở một số trạm thuộc Tây Bắc, Nam Trung Bộ và khu vực phía Nam.