Tổng quan nghiên cứu

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển thuộc hạ lưu châu thổ sông Hồng với tổng diện tích tự nhiên đạt 157.000 ha, trong đó đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp chiếm tới 61,9% (tương đương 97.200 ha) và thu hút 59,4% lực lượng lao động toàn tỉnh (khoảng 600.000 lao động vào năm 2011). Mặc dù sản xuất nông nghiệp giữ vai trò trụ cột trong việc bảo đảm an ninh lương thực với năng suất lúa dẫn đầu cả nước đạt 65,86 tạ/ha, địa phương đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về môi trường và suy thoái hệ sinh thái. Quá trình thâm canh hóa nông nghiệp, gia tăng đàn vật nuôi với hơn 1,2 triệu con lợn, cùng sự phát triển của các khu cụm công nghiệp chế biến đã tạo áp lực lớn lên chất lượng nước mặt, nước dưới đất và môi trường đất. Đồng thời, vị trí địa lý với hơn 50 km bờ biển khiến địa bàn tỉnh trở thành một trong những điểm nóng dễ bị tổn thương nhất trước các hiện tượng thời tiết cực đoan và nước biển dâng do biến đổi khí hậu.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là thu thập, hệ thống hóa và đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường (nước, không khí, đất, đa dạng sinh học); lượng hóa các tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái và năng suất sản xuất nông nghiệp; từ đó đề xuất các định hướng giải pháp khoa học nhằm tái cấu trúc ngành nông nghiệp Thái Bình theo hướng bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 8 huyện và thành phố thuộc tỉnh, trọng tâm tại hai huyện ven biển Tiền Hải và Thái Thụy. Chuỗi thời gian nghiên cứu kế thừa số liệu khí tượng thủy văn từ năm 1958 đến năm 2014, số liệu kinh tế - xã hội và chất lượng môi trường từ năm 2000 đến năm 2014, cùng các kịch bản dự báo biến đổi khí hậu đến năm 2050 và 2100. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để bảo vệ 165.700 ha đất trồng lúa, quy hoạch bền vững 13.700 ha diện tích nuôi trồng thủy sản và chủ động thích ứng trước kịch bản 31,4% diện tích tự nhiên của tỉnh có nguy cơ bị ngập chìm khi mực nước biển dâng cao 100 cm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Mô hình Đánh giá tổng hợp DPSIR (Driver - Pressure - State - Impact - Response) do Cơ quan Môi trường Châu Âu (EEA) ban hành năm 1999 làm khung lý thuyết trung tâm để phân tích mối quan hệ nhân quả tương hỗ giữa các hệ thống kinh tế - xã hội và môi trường tự nhiên. Bên cạnh đó, luận văn kết hợp Lý thuyết Phát triển nông nghiệp bền vững và Khung tiếp cận Thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA) nhằm làm rõ khả năng chống chịu của các sinh cảnh ven biển.

Các khái niệm then chốt được vận dụng trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Động lực (Driver): Các hoạt động phát triển kinh tế vĩ mô như mở rộng vùng thâm canh lương thực đạt sản lượng 1,14 triệu tấn/năm, phát triển chăn nuôi quy mô trang trại và các cơ sở công nghiệp chế biến nông thủy sản.
  2. Áp lực (Pressure): Các nguồn thải phát sinh từ sản xuất (phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, nước thải chăn nuôi) cùng các hiểm họa khí hậu cực đoan như bão, triều cường, hạn hán và nguy cơ xâm nhập mặn sâu từ 3 đến 9 km.
  3. Hiện trạng (State): Thực trạng chất lượng lý hóa học và sinh học của các thành phần môi trường nước mặt, nước ngầm, thổ nhưỡng, không khí và cấu trúc thảm thực vật rừng ngập mặn.
  4. Tác động (Impact): Hậu quả tiêu cực gây mất diện tích đất nông nghiệp, suy giảm đa dạng sinh học thủy sản ven bờ và thiệt hại kinh tế hàng tỷ đồng đối với đời sống cư dân.
  5. Đáp ứng (Response): Các quyết sách quy hoạch không gian lãnh thổ, chuyển đổi cơ cấu giống loài cây trồng vật nuôi và giải pháp công trình đê kè ứng phó biến đổi khí hậu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ Niên giám Thống kê tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005 - 2011, Báo cáo hiện trạng môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình, số liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 1958 - 2014 của Trạm Khí tượng Thái Bình, và Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2016.

Cỡ mẫu và mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường bao gồm hơn 20 vị trí định kỳ trên 4 lưu vực sông huyết mạch (sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc, sông Hóa) và kênh nội đồng tại cầu Đen - Vũ Phúc giai đoạn 2011 - 2014; các điểm lấy mẫu bụi tổng số (TSP) tại Khu công nghiệp Tiền Hải, Cụm công nghiệp Phong Phú, Cụm công nghiệp Vũ Thư; cùng các mẫu đất đại diện cho các nhóm đất chính (đất phù sa, đất mặn, đất phèn). Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nguyên tắc đại diện không gian theo các tiểu vùng sinh thái (vùng phù sa tích tụ cao, vùng bãi triều mặn ven biển) và chu kỳ thời gian theo hai mùa mưa - khô, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN).

Luận văn lựa chọn phương pháp đánh giá tổng hợp ma trận DPSIR kết hợp thống kê mô tả và phân tích xu thế kịch bản. Lý do lựa chọn phương pháp này là vì DPSIR cho phép tích hợp dữ liệu đa ngành từ tự nhiên, kỹ thuật đến kinh tế xã hội, giúp bóc tách rõ nguồn gốc áp lực gây ô nhiễm và định lượng chính xác mức độ tổn thương của từng phân vùng sinh thái. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt quá trình xử lý chuỗi số liệu lịch sử nhiều năm và tập trung phân tích chuyên sâu hiện trạng môi trường trong các năm 2011 - 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích chuỗi dữ liệu khí hậu cho thấy nhiệt độ trung bình năm tại Thái Bình trong 10 năm gần đây có xu hướng gia tăng khoảng 1,86°C, đi kèm với sự suy giảm lượng mưa trong mùa khô (mùa khô chỉ còn chiếm 15-20% tổng lượng mưa cả năm). Theo kịch bản phát thải cao A2, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ tại tỉnh có thể tăng thêm 3,10°C; khi mực nước biển dâng 100 cm, sẽ có 31,4% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh bị ngập lụt, trong đó huyện Thái Thụy ngập 31,86 km2 và huyện Tiền Hải ngập 35,91 km2. Xâm nhập mặn ranh giới 4‰ trên sông Hồng dự báo sẽ lấn sâu thêm từ 2,11 đến 6,30 km (trung bình 4,50 km).

Thứ hai, hiện trạng môi trường nước mặt ghi nhận tình trạng ô nhiễm hữu cơ đáng báo động tại các phụ lưu và kênh nội đồng. Nồng độ COD và BOD5 trên sông Trà Lý và sông Hồng qua các đợt quan trắc giai đoạn 2011 - 2014 nhiều thời điểm vượt giới hạn quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A2. Đặc biệt tại vị trí cầu Đen - Vũ Phúc, nồng độ các chất hữu cơ và dinh dưỡng duy trì ở ngưỡng rất cao. Môi trường nước dưới đất tại một số vùng duyên hải xuất hiện hàm lượng ion Cl-, Fe và NH4+ vượt tiêu chuẩn cho phép. Về môi trường không khí, hàm lượng bụi TSP tại Cụm công nghiệp Phong Phú và Khu công nghiệp Tiền Hải có thời điểm vượt ngưỡng tiêu chuẩn từ 1,2 đến 1,8 lần do khí thải sản xuất và giao thông vận tải.

Thứ ba, ngành sản xuất nông nghiệp và thủy sản gánh chịu tổn thất nặng nề từ các hiện tượng khí hậu cực đoan. Cơn bão số 8 vào cuối năm 2012 đã làm đổ và ngập úng 6.000 ha lúa mùa chuẩn bị thu hoạch, phá hủy gần 30.000 ha cây vụ đông và hoa màu, làm ngập hơn 8.000 ha đầm nuôi trồng thủy sản, khiến gần 2.500 ha nuôi ngao bãi triều tại Tiền Hải và Thái Thụy bị thiệt hại hoàn toàn.

Thứ tư, hệ sinh thái rừng ngập mặn với các loài ưu thế như Trang (Kandelia obovata), Bần (Sonneratia caseolaris), Sú (Aegiceras corniculatum) đang bị suy giảm nghiêm trọng. Việc chuyển đổi 4.845 ha đất bãi triều sang đầm nuôi tôm công nghiệp tại Tiền Hải đã làm mật độ thảm thực vật ngập mặn trong đầm chỉ còn bằng 50% so với khu vực rừng tự nhiên ngoài đê, làm mất đi sinh cảnh sống của nhiều loài động vật đáy và chim di cư.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi trường và suy giảm chất lượng sinh thái xuất phát từ sức ép gia tăng dân số với mật độ cao 1.138 người/km2, cùng tập quán canh tác thâm canh lúa sử dụng nhiều phân bón vô cơ trên diện tích 165,7 nghìn ha. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng nhanh của ngành nuôi trồng thủy sản đạt sản lượng 99.924 tấn vào năm 2011 nhưng thiếu hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn đã gây phú dưỡng hóa nguồn nước ven biển.

Khi so sánh với các nghiên cứu tại các tỉnh lân cận thuộc châu thổ sông Hồng như Nam Định và Hải Phòng, Thái Bình có tính chất dễ tổn thương cao hơn trước xâm nhập mặn do địa hình lòng chảo thấp trũng (cao độ trung bình chỉ 1 - 2 m so với mực nước biển) và bốn bề bao bọc bởi hệ thống sông lớn chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ bán nhật triều. Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh năm 2011 vẫn chiếm tới 37,26% (cao nhất vùng), khiến mức độ phơi nhiễm sinh kế của người dân trước rủi ro thiên tai lớn hơn nhiều so với các địa phương đã công nghiệp hóa hoàn toàn.

Các phát hiện nghiên cứu được minh chứng trực quan qua các dạng biểu đồ và bảng dữ liệu chuyên ngành:

  • Biểu đồ đường đa trục thể hiện mối tương quan nghịch đảo giữa nhiệt độ trung bình tăng tuyến tính (tăng 1,86°C/thập kỷ) và sự suy giảm lượng mưa các tháng mùa khô tại trạm Thái Bình.
  • Biểu đồ cột nhóm so sánh nồng độ trung bình COD và BOD5 trên 4 con sông lớn giai đoạn 2011 - 2014, phản ánh rõ mức độ ô nhiễm gia tăng theo hướng dòng chảy từ thượng lưu về các cửa sông Diêm Hộ, Trà Lý, Ba Lạt.
  • Bảng ma trận kịch bản ngập lụt lượng hóa chi tiết diện tích đất nông nghiệp bị ngập (km2) theo các mốc nước biển dâng 30 cm, 50 cm, 75 cm và 100 cm cho từng đơn vị hành chính.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, lập kế hoạch phân vùng không gian sinh thái và điều chỉnh quy hoạch sử dụng 97.200 ha đất nông nghiệp của tỉnh nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Cần chủ động chuyển đổi từ 5.000 đến 8.000 ha đất trồng lúa vùng trũng thường xuyên nhiễm mặn tại huyện Thái Thụy và Tiền Hải sang mô hình kết hợp nuôi thủy sản nước lợ sinh thái (lúa - rươi, tôm - rừng). Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2018 - 2025. Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân hai huyện ven biển. Mục tiêu: Giảm thiểu 25% thiệt hại kinh tế do hạn mặn và nâng giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác lên mức trên 150 triệu đồng/năm.

Thứ hai, triển khai chương trình phục hồi và bảo vệ 2.000 ha đai rừng ngập mặn phòng hộ ven biển tại khu vực cửa sông Ba Lạt và Diêm Hộ. Ưu tiên trồng bổ sung các loài cây ngập mặn bản địa có khả năng chắn sóng và giữ phù sa cao như Mắm biển, Bần chua, Trang. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2018 - 2030. Chủ thể thực hiện: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Bình phối hợp cùng các tổ chức bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng dân cư địa phương. Mục tiêu: Nâng độ che phủ rừng ngập mặn ven đê biển lên trên 75%, tạo lá chắn sinh học giảm thiểu tác động tàn phá của bão cấp 10 - 12.

Thứ ba, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi và cải tiến biện pháp canh tác nông nghiệp theo hướng bền vững. Đưa vào khảo nghiệm và gieo cấy đại trà các giống lúa thuần chất lượng cao có khả năng chống chịu độ mặn từ 3‰ đến 4‰; điều chỉnh lịch thời vụ vụ xuân và vụ mùa né tránh các đợt rét đậm đầu năm và ngập úng cuối năm; đẩy mạnh phát triển cây vụ đông ưa lạnh có giá trị kinh tế cao gấp 2 đến 3 lần trồng lúa trên đất màu. Thời gian thực hiện: Hàng năm trong giai đoạn 2018 - 2025. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Khuyến nông tỉnh và các Hợp tác xã Nông nghiệp. Mục tiêu: Duy trì sản lượng lương thực ổn định đạt trên 1,1 triệu tấn/năm.

Thứ tư, đầu tư nâng cấp, kiên cố hóa 50 km hệ thống đê biển, kè sông xung yếu và các cống ngăn mặn tiêu úng ven sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc. Đồng thời, bắt buộc 100% cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại (hơn 1.000 cơ sở) và các khu, cụm công nghiệp Tiền Hải, Phong Phú phải vận hành hệ thống xử lý nước thải đạt QCVN trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2018 - 2030. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Dự án Nông nghiệp tỉnh và Chi cục Bảo vệ Môi trường Thái Bình. Mục tiêu: Bảo đảm 100% diện tích đất canh tác nội đồng được kiểm soát ranh mặn dưới 1‰.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy lợi tỉnh Thái Bình và các tỉnh đồng bằng ven biển. Tài liệu cung cấp hệ thống số liệu quan trắc môi trường và kịch bản ngập lụt chi tiết làm căn cứ khoa học cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp tỉnh giai đoạn 2021 - 2030.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Biến đổi Khí hậu và Sinh thái học. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp áp dụng mô hình DPSIR để đánh giá định lượng chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả giữa ô nhiễm môi trường và an ninh lương thực tại một vùng châu thổ cửa sông.

Thứ ba, các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Công trình mang lại các phân tích thực tiễn về tính chất thổ nhưỡng, chất lượng nguồn nước và các rủi ro mặn hóa, giúp doanh nghiệp lựa chọn đúng mô hình nuôi tôm, cua, ngao công nghệ cao và tối ưu hóa chi phí xử lý nước cấp.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và các ban quản lý dự án phát triển cộng đồng hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học và giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Số liệu về hệ sinh thái rừng ngập mặn và tính dễ bị tổn thương của cộng đồng ven biển là đầu vào quan trọng để thiết kế các dự án phục hồi sinh cảnh dựa vào cộng đồng tại khu vực Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu gây ra những thiệt hại nặng nề nhất đối với lĩnh vực nào trong sản xuất nông nghiệp tại Thái Bình? Trồng trọt và nuôi trồng thủy sản ven biển là hai lĩnh vực chịu tổn thương nghiêm trọng nhất. Hiện tượng nước biển dâng và xâm nhập mặn đe dọa trực tiếp 165,7 nghìn ha diện tích gieo cấy lúa. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão số 8 năm 2012 đã từng làm ngập úng hơn 8.000 ha đầm nuôi thủy sản và phá hủy 2.500 ha bãi nuôi ngao tại hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy.

Mô hình DPSIR được vận dụng như thế nào để giải quyết vấn đề nghiên cứu của luận văn? Mô hình DPSIR đã xâu chuỗi logic 5 yếu tố: Động lực (thâm canh nông nghiệp, dân số 1,78 triệu người), Áp lực (chất thải nông nghiệp, nước biển dâng 33-100 cm), Hiện trạng (chất lượng nước sông Hồng, sông Trà Lý bị suy giảm), Tác động (thu hẹp đất canh tác, giảm đa dạng rừng ngập mặn), và Đáp ứng (chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, kiên cố hóa 50 km đê biển).

Theo kịch bản biến đổi khí hậu, diện tích đất bị ngập lụt tại Thái Bình sẽ diễn biến ra sao khi mực nước biển dâng 100 cm? Theo kịch bản phát thải cao A2 vào cuối thế kỷ 21, khi mực nước biển dâng thêm 100 cm, sẽ có khoảng 31,4% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Thái Bình đứng trước nguy cơ bị ngập lụt hoàn toàn. Trong đó, huyện Thái Thụy bị ngập 31,86 km2 và huyện Tiền Hải bị ngập 35,91 km2, khiến ranh mặn 4‰ lấn sâu vào sông Hồng tới 4,50 km.

Chất lượng môi trường nước mặt tại các sông chính ở Thái Bình hiện nay ra sao? Nguồn nước mặt trên 4 sông lớn (sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc, sông Hóa) xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ trong mùa khô. Hàm lượng COD và BOD5 tại nhiều điểm quan trắc vượt giới hạn quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Điển hình tại khu vực kênh Cầu Đen - Vũ Phúc, nồng độ chất hữu cơ và hợp chất nitơ duy trì ở mức cao do tiếp nhận nước thải sinh hoạt và chăn nuôi.

Các giải pháp canh tác nào được đánh giá là hiệu quả nhất để thích ứng với điều kiện khí hậu thay đổi tại địa phương? Các giải pháp tối ưu bao gồm việc đưa vào gieo trồng các giống lúa chịu mặn từ 3‰ đến 4‰ tại các xã ven biển; mở rộng diện tích cây vụ đông ưa lạnh (ngô, khoai tây, rau cao cấp) trong 3 tháng mùa đông giá lạnh để tăng hiệu quả kinh tế gấp 2-3 lần; kết hợp chuyển dịch vùng trũng thấp sang nuôi trồng thủy sản đa tầng sinh thái nước lợ.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập cơ sở dữ liệu khoa học thực nghiệm toàn diện về hiện trạng môi trường nước, không khí, đất và đa dạng sinh học tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 - 2014.
  • Đã lượng hóa rõ nét các áp lực từ kịch bản biến đổi khí hậu với mức tăng nhiệt độ 1,86°C trong thập kỷ qua và nguy cơ ngập lụt tới 31,4% diện tích toàn tỉnh khi nước biển dâng 100 cm.
  • Áp dụng thành công mô hình ma trận DPSIR trong việc phân tích các chuỗi tương tác nhân quả giữa phát triển nông nghiệp thuần nông (chiếm 61,9% đất tự nhiên) và ô nhiễm tài nguyên sinh thái.
  • Đánh giá sâu sắc mức độ suy thoái của hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Tiền Hải và Thái Thụy do xung đột không gian với hoạt động nuôi tôm bán thâm canh.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đáp ứng mang tính khả thi cao, kết hợp hài hòa giữa quy hoạch phân vùng sinh thái, phục hồi rừng ngập mặn phòng hộ và hiện đại hóa công trình thủy lợi ngăn mặn.

Đóng góp cốt lõi của công trình là cung cấp luận cứ khoa học định lượng phục vụ trực tiếp cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2018 - 2030 theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Để bảo vệ các thành quả kinh tế nông thôn và hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh, các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần tiếp tục khai thác, ứng dụng các phát hiện của luận văn vào việc triển khai ngay các mô hình canh tác sinh thái thích ứng tại các vùng cửa sông ven biển.