Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn do phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý đang là thách thức nghiêm trọng tại các vùng đồng bằng thuần nông. Tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, tổng diện tích tự nhiên đạt 704,67 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 74,44% tương đương 524,54 ha với hơn 86% dân số sống bằng nghề nông. Hàng năm, hoạt động canh tác lúa trên diện tích 400 ha phát sinh hơn 5.000 tấn rơm rạ tươi, tương đương 2.000 tấn rơm rạ khô và 1.000 tấn vỏ trấu sau quá trình xay xát. Cùng với đó, toàn xã duy trì đàn vật nuôi gồm 2.200 con lợn, 19.100 con gia cầm và 80 con trâu bò, thải ra hàng chục tấn phân và nước thải mỗi ngày nhưng có tới hơn 80% phụ phẩm trồng trọt bị đốt bỏ ngoài trời hoặc vứt xuống kênh mương thủy lợi.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường cục bộ, suy thoái đất và lãng phí nguồn sinh khối hữu cơ tại địa phương thông qua việc thiết lập chu trình tuần hoàn chất thải. Mục tiêu cụ thể là khảo sát hiện trạng phát thải, phân tích các chỉ số lý hóa của dòng thải, đồng thời đánh giá khả năng ứng dụng mô hình nông nghiệp không chất thải theo mô thức Vườn - Ao - Chuồng - Biogas kết hợp công nghệ trồng nấm và ủ phân compost. Nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn 22 xóm thuộc xã Giao Lạc trong giai đoạn 2015 đến 2016. Luận văn mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp giải pháp kỹ thuật giúp cắt giảm trên 70% lượng khí thải độc hại, tái chế 100% phế phụ phẩm đồng ruộng và nâng cao thu nhập bình quân của người dân địa phương từ mức 15 triệu đồng mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận theo thuyết Không chất thải do tổ chức Sáng kiến Nghiên cứu Không Phát thải khởi xướng, khẳng định chất thải của một quá trình sản xuất chính là nguồn nguyên liệu đầu vào có giá trị cho một quá trình tiếp theo. Hệ thống lý thuyết sinh thái nông nghiệp khép kín tích hợp mô hình Vườn - Ao - Chuồng - Biogas được vận dụng để chuyển đổi hệ thống canh tác tuyến tính một chiều thành chu trình tuần hoàn vật chất và năng lượng.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm then chốt gồm: sinh khối phế phụ phẩm nông nghiệp, quá trình lên men kỵ khí sinh khí sinh học, công nghệ chuyển hóa sinh học cellulose trồng nấm rơm và phương pháp ủ phân hữu cơ vi sinh hiếu khí. Trong đó, cơ chế ủ phân hữu cơ hiếu khí dựa trên nguyên lý khoáng hóa chất hữu cơ ở tỷ lệ cacbon trên nitơ tối ưu là 25/1, duy trì nhiệt độ khối ủ đạt từ 60 đến 70 độ C nhằm tiêu diệt hoàn toàn mầm bệnh, hạt cỏ dại và trứng ký sinh trùng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu là 50 hộ gia đình phân bố tập trung tại 7 xóm chăn nuôi trọng điểm của xã Giao Lạc gồm xóm 1, 2, 5, 6, 7, 8 và 10. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các hộ chăn nuôi điển hình có quy mô từ 6 đến 20 con lợn hoặc từ 1 đến 2 con bò kết hợp trồng lúa.

Quy trình thu thập và bảo quản mẫu nước thải hầm biogas được thực hiện nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn TCVN 5999:1995 trong 3 đợt quan trắc thực địa vào các ngày 20/3/2015, 3/4/2015 và 17/4/2015. Mỗi đợt tiến hành thu 2 mẫu nước thải đầu vào chuồng nuôi vào khung giờ dội rửa từ 7 giờ đến 8 giờ sáng và mẫu nước thải đầu ra sau xử lý. Các chỉ tiêu gồm pH, nhiệt độ, chất rắn lơ lửng, nhu cầu oxy hóa học, nhu cầu oxy sinh học, tổng nitơ, tổng photpho và vi sinh vật Coliform được phân tích trực tiếp tại phòng thí nghiệm chuyên sâu của Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam. Lưu lượng khí sinh học được đo lường thực tế bằng hệ thống túi chứa nilon chuyên dụng có đường kính 0,8 m và chiều dài 3 m, kết hợp xử lý số liệu thống kê qua phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa cho thấy một hộ gia đình chăn nuôi điển hình tại xã Giao Lạc thải ra trung bình từ 15 đến 50 kg phân trâu bò hoặc từ 4,8 đến 80 kg phân lợn mỗi ngày. Trong canh tác trồng trọt, mỗi sào ruộng 360 m2 tiêu thụ trung bình 20 kg phân lân, 12 kg đạm và 6 kg kali cùng 4 đợt phun thuốc bảo vệ thực vật mỗi vụ, tạo ra áp lực tồn dư hóa chất rất lớn trên đồng ruộng.

Khi ứng dụng mô hình hầm biogas bằng nhựa composite thể tích 2,25 m3 cho hộ chăn nuôi quy mô 10 con lợn và 1 con bò, hiệu quả làm sạch nước thải đạt mức vượt trội. Các kết quả phân tích phòng thí nghiệm ghi nhận nồng độ chất rắn lơ lửng giảm từ 78% đến 85%, chỉ số nhu cầu oxy sinh học giảm trên 80% và nhu cầu oxy hóa học giảm tương ứng từ 75% đến 82% so với dòng thải đầu vào chưa qua xử lý. Lượng vi khuẩn Coliform gây bệnh đường ruột bị ức chế và tiêu diệt hơn 90%, đồng thời cung cấp sản lượng khí metan ổn định phục vụ đun nấu sinh hoạt hàng ngày cho gia đình 4 nhân khẩu.

Đối với phế phụ phẩm trồng trọt, mô hình trồng nấm rơm từ rơm rạ khô mang lại hiệu suất sinh khối rất cao. Cứ 1 tấn rơm rạ khô chất được từ 75 đến 80 mô nấm với chu kỳ nuôi trồng ngắn từ 25 đến 30 ngày. Sản lượng nấm tươi thu hoạch đợt 1 đạt từ 70% đến 80% tổng sản lượng và đợt 2 thu hồi thêm từ 15% đến 25%. Bã thải sau khi thu hoạch nấm được bổ sung chế phẩm sinh học vi sinh để ủ phân compost hiếu khí, tạo ra sản phẩm phân hữu cơ vi sinh tơi xốp giàu dinh dưỡng bón trở lại cho 424,55 ha đất trồng trọt của địa phương.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả xử lý chất thải vượt trội của mô hình bắt nguồn từ việc kết hợp đồng bộ giữa phản ứng phân hủy yếm khí của vi sinh vật kỵ khí trong môi trường hầm kín và hoạt động của xạ khuẩn, nấm sợi trong quá trình ủ hiếu khí bã thực vật. Nước thải sau hầm biogas đã loại bỏ phần lớn chất hữu cơ hòa tan, chuyển hóa hợp chất hữu cơ cao phân tử thành khí sinh học sạch và bùn vi sinh giàu khoáng chất.

Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột đối sánh nồng độ chất rắn lơ lửng, nhu cầu oxy hóa học và nhu cầu oxy sinh học giữa dòng thải đầu vào và đầu ra qua 3 đợt lấy mẫu. Đồng thời, sự biến thiên nhiệt độ từ 45 đến 70 độ C và chỉ số pH trong khoảng 6,5 đến 7,5 của đống ủ compost theo thời gian được mô tả rõ nét qua bảng theo dõi động thái phân giải 4 giai đoạn. So sánh với các mô hình nông nghiệp sinh thái tại huyện Quan Hóa tỉnh Thanh Hóa hay thị xã Phú Thọ, mô hình tại Giao Lạc có tính tương thích cao hơn với điều kiện kinh tế hộ thuần nông nhờ chi phí đầu tư ban đầu thấp, quy trình vận hành khép kín và khả năng tự cung cấp năng lượng tại chỗ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân xã Giao Lạc cần phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Giao Thủy triển khai lắp đặt đồng loạt hầm biogas nhựa composite dung tích từ 2,25 m3 đến 3 m3 cho 135 hộ chăn nuôi lợn và 62 hộ nuôi trâu bò trên địa bàn. Mục tiêu đặt ra là xử lý triệt để 100% lượng phân chuồng tươi và giảm 85% lượng nước thải ô nhiễm xả ra hệ thống 111 kênh mương thủy lợi nội đồng trong giai đoạn 2016 đến 2018.

Thứ hai, Hợp tác xã Nông nghiệp Giao Lạc cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao quy trình trồng nấm rơm trong nhà và ngoài trời từ 2.000 tấn rơm rạ khô sau thu hoạch. Kế hoạch hành động yêu cầu hoàn thành đào tạo kỹ thuật cho ít nhất 300 hộ xã viên ngay trong quý 2 năm 2016, nâng cao giá trị kinh tế trên mỗi hecta đất canh tác thêm từ 20% đến 30%.

Thứ ba, Hội Nông dân xã chủ trì vận động các hộ gia đình ứng dụng chế phẩm sinh học vi sinh xử lý rơm rạ và ủ bã nấm thành phân compost hữu cơ tại ruộng. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2017 thay thế từ 30% đến 40% lượng phân bón hóa học vô cơ bằng phân bón vi sinh tự sản xuất, góp phần cải tạo độ phì nhiêu cho 524,54 ha đất nông nghiệp toàn xã.

Thứ tư, Ban Địa chính - Nông nghiệp xã cần thiết lập 22 bể bê tông thu gom bao bì, vỏ chai thuốc bảo vệ thực vật tại các trục đường nội đồng dài 16,91 km. Định kỳ hàng quý, chính quyền địa phương kết hợp với đơn vị môi trường chuyên trách tiến hành thu gom và vận chuyển đi tiêu hủy an toàn, chấm dứt hoàn toàn tình trạng vứt vỏ thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi ra môi trường nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý tài nguyên môi trường và lãnh đạo chính quyền cấp xã, huyện. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch quản lý chất thải nông thôn, hoàn thiện tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng Nông thôn mới tại địa phương.

Nhóm thứ hai là các kỹ sư môi trường và cán bộ khuyến nông cơ sở. Tài liệu này đóng vai trò như một cẩm nang hướng dẫn chi tiết về thông số thiết kế hầm biogas composite, định lượng nguyên liệu phối trộn và quy trình kỹ thuật nuôi trồng nấm rơm từ phế phẩm rơm rạ.

Nhóm thứ ba là các chủ trang trại, gia trại và hộ nông dân chăn nuôi kết hợp trồng trọt. Nghiên cứu mang lại giải pháp ứng dụng thực tiễn giúp người dân tận dụng tối đa dòng phụ phẩm sẵn có, tiết kiệm hàng triệu đồng chi phí chất đốt và phân bón mỗi năm.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, sinh viên và các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường và Nông nghiệp Bền vững. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo phong phú về phương pháp điều tra xã hội học nông thôn, quy trình lấy mẫu quan trắc nước thải và mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp nhiệt đới.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình Vườn - Ao - Chuồng - Biogas mang lại lợi ích kinh tế cụ thể nào cho hộ chăn nuôi nhỏ lẻ? Mô hình giúp một hộ gia đình nuôi 10 con lợn tiết kiệm toàn bộ chi phí mua khí đốt sinh hoạt hàng tháng nhờ lượng khí sinh học metan dồi dào, đồng thời thu được hàng tấn phân bón hữu cơ vi sinh chất lượng cao thay thế phân vô cơ, giúp tăng lợi nhuận chăn nuôi thêm hàng triệu đồng mỗi lứa xuất chuồng.

Xử lý rơm rạ trồng nấm rơm cần tuân thủ các thông số kỹ thuật cốt lõi nào? Quá trình xử lý đòi hỏi rơm rạ khô được làm ẩm bằng nước vôi 1% với tỷ lệ 3,5 kg vôi trên 1.000 lít nước nhằm làm mềm cơ chất và khử khuẩn. Độ ẩm đống ủ phải duy trì từ 65% đến 70%, nhiệt độ buồng nuôi giữ ổn định từ 30 đến 32 độ C và độ ẩm không khí đạt 80%.

Bã thải sau khi thu hoạch nấm rơm được tái chế như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất? Bã nấm sau 25 ngày thu hoạch được phối trộn với phân gia súc và chế phẩm vi sinh phân giải cellulose, ủ theo phương pháp hiếu khí ở nhiệt độ từ 60 đến 70 độ C trong 20 đến 40 ngày. Quá trình này tạo ra phân hữu cơ compost giàu mùn, diệt sạch mầm bệnh và rất tốt cho cây màu.

Hiệu quả xử lý chất ô nhiễm của hầm biogas nhựa composite 2,25 m3 đạt mức bao nhiêu? Các kết quả phân tích qua 3 đợt quan trắc chứng minh hệ thống hầm ủ composite giúp giảm nồng độ chất rắn lơ lửng từ 78% đến 85%, nhu cầu oxy sinh học và nhu cầu oxy hóa học giảm trên 80%, đồng thời tiêu diệt hơn 90% vi khuẩn Coliform gây bệnh trong nước thải.

Xã Giao Lạc gặp những rào cản lớn nhất nào khi nhân rộng mô hình nông nghiệp không chất thải? Trở ngại chính bao gồm tập quán canh tác lạc hậu đốt rơm rạ trực tiếp ngoài đồng của người dân, hạ tầng giao thông nội đồng với 16,91 km đường đất gây khó khăn cho việc vận chuyển nguyên liệu và nguồn vốn đầu tư ban đầu của các hộ nghèo chiếm 13,56% dân số còn hạn chế.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn bài toán ô nhiễm môi trường nông nghiệp tại địa phương thông qua 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về mô hình nông nghiệp không chất thải phù hợp với điều kiện sinh thái đồng bằng sông Hồng.
  • Đánh giá định lượng toàn diện hiện trạng phát thải với hơn 5.000 tấn rơm rạ và hàng chục tấn chất thải chăn nuôi mỗi năm tại xã Giao Lạc.
  • Kiểm chứng thực nghiệm hiệu quả làm sạch nước thải vượt trội của công nghệ hầm biogas composite 2,25 m3 qua 3 đợt quan trắc môi trường chuẩn hóa.
  • Hoàn thiện quy trình công nghệ 2 giai đoạn: chuyển hóa rơm rạ thành nấm rơm thương phẩm và tái chế bã nấm thành phân bón hữu cơ vi sinh.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quản lý và cơ chế chính sách đồng bộ có tính ứng dụng cao cho chính quyền địa phương.

Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung xây dựng mô hình điểm tại 7 xóm trọng điểm trong năm 2016 trước khi nhân rộng ra toàn bộ 22 xóm của xã vào năm 2018. Các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng nông dân hãy chủ động liên kết, ứng dụng ngay các tiến bộ kỹ thuật sinh thái để chuyển đổi nền nông nghiệp Giao Lạc theo hướng tuần hoàn, không chất thải và phát triển bền vững.