MỞ ĐẦU Lưu vực sông Đáy nằm ở phía Tây – Nam của đồng bằng Bắc Bộ, đây là một trong những lưu vực sông quan trọng của nước ta. Lưu vực sông trải trên diện tích hành chính của 5 tỉnh, thành phố (Hòa Bình, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình) gồm một phần Thủ đô Hà Nội. Những năm gần đây, nền kinh tế - xã hội của các tỉnh thành này đang trên đà khởi sắc, tốc độ phát triển tăng một cách đáng kể. Tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa này đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế nhưng mặt trái của nó là việc ảnh hưởng đến môi trường của khu vực nói chung cũng như của lưu vực sông Đáy nói riêng.
Chất lượng nước của các con sông nhìn chung đã bị ô nhiễm và ở một vài khu vực sông đã bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tại các con sông của Việt Nam, đặc biệt là ở vùng châu thổ sông Hồng (trong đó có lưu vực sông Đáy), chất rắn lơ lửng trong cột nước là rất lớn, kéo theo hàm lượng kim loại vết trong pha hạt tăng nên rất dễ gây ra hiện tượng tái lơ lửng. Do vậy, việc nghiên cứu sự phân bố của kim loại nặng là cần thiết để có thể hiểu được sự phân tán, sự chuyển đổi, và quá trình làm giàu thêm của các kim loại nặng trong môi trường nước của lưu vực sông Đáy. Một đặc điểm riêng của nước mặt tại lưu vực sông Đáy nói riêng và của Việt Nam nói chung là do tốc độ đô thị hóa nhanh mà không có sự phát triển tương xứng trong việc xử lý nước thải, nước thải không được xử lý mà thải trực tiếp ra các sông.
Điều này cũng ảnh hưởng lớn đến sự phân bố của các kim loại trong nước. Thêm vào đó, do sự bùng nổ kinh tế của nước ta, các kim loại nặng sinh ra trong các hoạt động công nghiệp (như ngành mạ kim loại…) ngày càng nhiều; điều đó rất dễ dẫn đến sự tích lũy kim loại nặng trong nước và chất rắn lơ lửng. Vì vậy, việc nghiên cứu sự phân bố kim loại nặng trong nước, trong chất rắn lơ lửng và trầm tích là rất cần thiết. Trong bản luận văn này, với đối tượng phân tích là hàm lượng các kim loại nặng trong các mẫu nước, chất lơ lửng và trầm tích lấy tại 10 địa điểm thuộc lưu Luận văn tốt nghiệp 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích vực sông Đáy được xác định theo phương pháp quang phổ khối plasma cao tần cảm ứng (ICP – MS).
Số liệu hàm lượng các kim loại nặng có trong các đối tượng mẫu nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê đa biến (multivariate analysis) để đánh giá nguồn gốc, sự phân bố hàm lượng kim loại nặng và ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System – GIS) để đánh giá nguồn phát sinh, sự lan truyền, quản lý ô nhiễm tại lưu vực sông Đáy. Luận văn tốt nghiệp 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về lƣu vực sông Đáy 1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội lƣu vực sông Đáy Đặc điểm tự nhiên [22] Lưu vực sông Đáy nằm ở phía Tây – Nam của đồng bằng Bắc Bộ, về phía bờ bên phải của sông Hồng.
Mặc dù sông Đáy là một nhánh của sông Hồng nhưng nó cũng có lưu vực riêng với các sông nhánh bao gồm sông Tích, sông Thanh Hà, sông Hoàng Long, sông Vác, sông Nhuệ, sông Châu Giang, sông Sét và sông Đào. Sông Đáy cũng có liên quan với sông Ninh Cơ và kênh Quan Lieu. Lưu vực sông kéo dài từ khu vực miền núi thuộc tỉnh Hà Tây và Hòa Bình đến bờ biển ở tỉnh Nam Định và Ninh Bình với tổng diện tích tự nhiên là 7. Lưu vực sông trải trên diện tích hành chính của 5 tỉnh, thành phố (Hòa Bình, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình) gồm một phần Thủ đô Hà Nội.
Bản đồ các tỉnh nằm trong lưu vực sông Đáy Luận văn tốt nghiệp 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích Sông Đáy dài 237km, chảy qua các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình, cuối cùng đổ ra biển tại cửa Đáy. Sông Đáy là một sông nhánh của sông Hồng. Từ năm 1937, sau khi đập Đáy được xây dựng, nước sông Hồng không chảy vào sông Đáy thường xuyên, do đó sông Đáy đã trở thành con sông tiêu nước và phục vụ cho việc phân lũ vào mùa lũ. Sông Nhuệ dài 74km và nhận nước từ sông Hồng thông qua cống Liên Mạc.
Sông Nhuệ cũng phục vụ cho hệ thống tiêu nước cho thành phố Hà Nội và quận Hà Đông. Sông Nhuệ gặp sông Đáy tại thị xã Phủ Lý. Lưu vực sông Nhuệ có diện tích 1. Một số sông chính nhận nước từ sông Hồng từ các kênh đào bao gồm: sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu và sông Đào.
Bên cạnh đó, có những sông khác là những sông tiêu nước cho các thành phố, thị xã, khu dân cư, khu công nghiệp, các khu dịch vụ, các làng nghề như sông Tích, sông Hoàng Long và sông Thanh Hà. Tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm môi trƣờng [22] Nhờ có địa hình đa dạng với núi, đồi và đồng bằng, lưu vực sông có sự khác biệt về hệ sinh thái như đồi núi, núi đá vôi, nước ngọt và các vùng ngập nước. Mặc dù phần lớn lưu vực đã được khai thác từ lâu nhưng sinh thái của lưu vực vẫn còn đa dạng và phong phú từ khi một phần của lưu vực được xây dựng sang một bên thành diện tích rừng đặc dụng, bao gồm vườn quốc gia Cúc Phương và vườn quốc gia Ba Vì, khu vực được bảo vệ Hương Sơn, Hoa Lư và khu vực bảo tồn đất ngập nước Văn Long và Xuân Thủy. Lưu vực sông Đáy có nhiều sông nhánh chảy qua các thành phố, thị xã, khu dân cư, khu công nghiệp, khu dịch vụ, các làng nghề… Đây là nguồn nước quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.
Mạng lƣới sông ngòi và chế độ thủy văn * Mạng lưới sông ngòi[2] Luận văn tốt nghiệp 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích Mạng lưới sông ngòi khu vực nghiên cứu tương đối phát triển, mật độ lưới sông đạt 0,7 – 1,2 km/km2. Lưu vực có dạng dài, hình nan quạt, gồm có các sông chính sau: * Sông Đáy: nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, bắt đầu từ của Hát Môn chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, đổ ra biển tại cửa Đáy. * Sông Nhuệ: lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc để tưới cho hệ thống thủy nông Đan – Hoài. Sông Nhuệ còn tiêu nước cho thành phố Hà Nội, quận Hà Đông và chảy vào sông Đáy tại thị xã Phủ Lý.
* Sông Tô Lịch: dài 14,6 km, bắt nguồn từ cống Phan Đình Phùng, chảy qua địa phận Từ Liêm, Thanh Trì qua đập Thanh Liệt và đổ vào sông Nhuệ. Đoạn cuối của sông Tô Lịch đảm nhận toàn bộ lượng nước thải của thành phố. Đây là con sông thoát nước chính của Hà Nội. * Sông Thanh Hà: bắt nguồn từ dãy núi đá vôi ở gần Kim Bôi (Hòa Bình) chảy vào vùng đồng bằng từ ngã ba Đông Chiêm ra đến Đục Khê, được ngăn cách giữa đồng bằng và núi bởi kênh Mỹ Hà, đưa nước chảy thẳng vào sông Đáy.
* Sông Tích: bắt nguồn từ núi Tản Viên thuộc dãy Ba Vì theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đổ vào sông Đáy tại Ba Thá. * Sông Châu: trước đây cũng là phân lưu của sông Hồng, chảy vào sông Đáy tại Phủ Lý, nhưng cửa sông nhận nước sông Hồng đã bị bồi lấp nên ngày nay sông Châu chỉ còn là một con sông tiêu nước cho vùng 6 trạm bơm lớn tỉnh Hà Nam và Nam Định. * Chế độ thủy văn [22, 34] Chế độ nhiệt: chế độ nhiệt phân hóa khá rõ rệt theo độ cao trong khu vực.Ở vùng thấp nhiệt độ trung bình năm đạt từ 25 – 270C: mùa hè đạt 27 – 300C, mùa đông đạt 18 – 200C. Ở vùng cao, nhiệt độ mùa đông khoảng 16 – 180 C, mùa hè đạt khoảng 220C.
Luận văn tốt nghiệp 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích Chế độ mưa ẩm: Mùa mưa trùng với mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10), lượng mưa chiếm 80 – 85% tổng lượng nước, đạt từ 1200 – 1800 mm với số ngày mưa vào khoảng 60 – 70 ngày. Lượng mưa các tháng mùa khô đều dưới 100mm/tháng, trong đó tháng 7, 1, 2, 3 đều dưới 50mm/tháng. Cũng giống như lượng mưa, dòng chảy phân bố trên lưu vực cũng không đều. Dòng chảy lớn nhất là ở núi Ba Vì, phần hữu ngạn lưu vực có dòng chảy lớn hơn phần tả ngạn.
Dòng chảy mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10 năm sau, chiếm 70 – 80% lượng dòng chảy của năm, tháng 9 là tháng có dòng chảy trung bình tháng lớn nhất (chiếm khoảng 20 – 30% lượng dòng chảy mỗi năm) và lũ lớn nhất năm của sông Đáy cũng thường xảy ra vào tháng 9. Sông Hồng cung cấp khoảng 85 – 90% tổng lượng nước chảy vào lưu vực sông Đáy. Tổng lượng nước hàng năm của lưu vực sông Đáy là khoảng 28,8 tỷ m3, trong đó 25,7 tỷ m3, tương đương với 89,5% là từ sông Đào (tỉnh Nam Định); 1,35 tỷ m3, vào khoảng 4,7% đến từ sông Tích và sông Đáy tại Ba Thá. Khoảng 70 – 80% tổng lượng nước hàng năm của lưu vực sông nhận được là vào mùa lũ, từ tháng 6 đến tháng 10.
Trong suốt mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, sông Nhuệ nhận nước từ sông Hồng thông qua cống Liên Mạc, sông Đào nhận nước từ sông Hồng và đổ vào sông Đáy. Chế độ dòng nước của sông Đáy chịu ảnh hưởng không chỉ bởi các yếu tố khí hậu (chủ yếu là lượng mưa) mà còn bởi chế độ dòng nước của sông Hồng và chế độ thủy triều của vịnh Bắc Bộ. Vì thế mà chế độ dòng chảy sông Đáy rất phức tạp và có sự khác nhau nhất định giữa các đoạn sông. Chế độ dòng nước của sông Nhuệ phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình hoạt động phân nước của các cống như Liên Mạc (sông Hồng) và Thanh Liệt (sông Tô Lịch) và những cống khác trên dòng chính như Hà Đông, Đông Quan, Nhật Tựu và Lương Cơ – Diệp Sơn.
Luận văn tốt nghiệp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích 1. Tổng quan về hiện trạng môi trường lưu vực sông Đáy Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy có diện tích tự nhiên 7.