Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Tinh hinh canh tac lia 6 Viét Nam Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Vào năm 2015, có khoảng 45 triệu tấn gạo được sản xuất, trong đó có khoảng 22,4% đã được xuất khẩu, và phần còn lại được tiêu thụ trong nước (USDA, 2017). Trong nhiều năm, lúa là một trong những cây trồng quan trọng nhất ở Việt Nam với khoảng 7.6 triệu ha được canh tác trong nước (Tổng cục thống kê của Việt Nam, 2017).
Hơn thế nữa, có khoảng 55% sản lượng lúa gạo cả nước được sản xuất tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và năng suất trung bình của khu vực này là 5,98 tan/ha (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2020) cao hơn 38% so với năng suất trung bình toàn cau. Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam có diện tích 40. Đây là phan hạ lưu của sông Mê Kông, tổng dân số hơn 17 triệu người với 3,96 triệu ha cho các hoạt động nông nghiệp (Lê Anh Tuấn và ctv, 2007). ĐBSCL sản xuất hơn 50% thực phẩm ngũ cốc cho tất cả Việt Nam.
Xuất khẩu gạo từ khu vực này là một trong những thế mạnh quan trọng nhất của đất nước. Sản lượng cao nhất được thu hoạch trong mùa đông-xuân (tháng 1 đến tháng 4) và có thé cao hơn 20,5% so với trung bình của năm (Nguyễn Hoàng Dân và ctv, 2015). Tiền Giang là một trong những tỉnh nằm trong khu vực ĐBSCL. Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Tiền Giang năm 2019, tổng điện tích xuống giống 184.227 ha, năng suất trung bình khoảng 6,1 tan/ ha, sản lượng đạt 1,1 triệu tấn/ năm.
Sản lượng lúa vụ Đông Xuân đạt 466.625 tan, vụ Hè Thu đạt 316.609 tan và vu Thu Đông đạt 140. Tổng quan về cỏ lồng vực E. Có dại là loại thực vật mọc tự nhiên, có ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng, năng suất và pham chất của cây trồng, gây tốn kém trong chi phí sản xuất, là loại thực vật có nhiều khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh, có tính chống chịu cao với điều kiện khắc nghiệt của khí hậu và thé nhưỡng (Hà Thị Hiền, 2003). Bên cạnh những tác động trực tiếp, cỏ dại cũng có thê đóng vai trò là vật chủ thay thé cho côn trùng và mầm bệnh trên đồng ruộng, dẫn đến hậu quả là chi phí phòng trừ cao hơn và tăng nguy cơ cây trồng bị nhiễm bệnh (Wisler và Norris, 2005).
Một số báo cáo về cỏ lồng vực (Echinochloa spp.) đóng vai trò là vật chủ cho virut truyền bởi ray nâu trên ruộng lúa vào cuối vụ lúa (Hattori, 2001; Zhou và ctv, 2008). Chi Echinochloa bao gồm 250 loài, va hau hết đều là cỏ dai. Các loài cỏ dai thuộc Echinochloa rất đa dạng về tập tinh sinh trưởng, phân bố và hình thái học của chúng (Barrett và Wilson, 1983). Hình thái của Echinochloa spp.
rất đa dang, trong nhiều trường hợp, có một số loài nhầm lẫn với nhau. crus-galli là một trong những loài phô biến của chi Echinochloa, là một loại cỏ hằng năm hoặc lâu năm, sống cạnh tranh với lúa trong đồng ruộng. crus-galli sống ở những khu vực có khí hậu ấm, những khu vực có lượng mưa lớn và nhiệt độ thay đổi trên khắp thé giới, ngoại trừ Greenland và Nam Cuc. crus-galli có nguồn gốc từ Ấn Độ nhưng hiện nay được lan rộng ra những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Quattrocchi, 2006).
crus-galli được gọi là “lúa rừng” do có hình dang và phát triển chung với điều kiện tự nhiên giống với cây lúa (Borkar và cvt, 2015). Môi trường sống và phát triển của E. crus-galli ở những vùng đất âm hoặc dat phù sa và đất sét và chủ yếu xảy ra trên đất 4m, mau mỡ va có kết cầu nặng, bị lũ lụt theo mùa. crus-galli được tìm thấy tự nhiên ở vùng đất ngập nước: trong ao va những nơi dam lay, ở những đồng cỏ ngập nước theo mùa, bờ sông, ria của hỗ nước mặn, ở những khu vực bị xáo trộn, những cánh đồng bị bỏ hoang và mương được tưới tiêu (FAO, 2011).
crus-galli phát triển phổ biến nhất ở độ cao thấp nhưng nó có thể được tìm thấy ở độ cao tới 2000 m và ở những khu vực có lượng mưa hàng năm từ 400 mm đến khoảng 1200 mm (Manidool, 1992). crus-galli không thé phát triển ở nhiệt độ rất thấp và sẽ bị chết ở nhiệt độ 9°C (Ecocrop, FAO, 2011). Theo Chauhan và Abugho, 2012 hạt E. crus-galli nảy mầm dé dang ở nhiệt độ trên 25°C, với điều kiện có đủ độ 4m.
Ở Việt Nam khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long là nơi lý tưởng dé E. crus-galli phát trién. Có khoảng 400 loài cỏ dại được bao cáo trong các vụ mùa vung cao và ruộng lúa của Việt Nam; Trong số những loại cỏ đại đó, E. crus-galli là một trong 9 loại cỏ dại quan trọng nhất trên ruộng lúa vì loại cỏ này có thể làm giảm năng suất lúa khoảng 25% trong điều kiện phá hoại cao (Dương Văn Chín, 2001).
Kết quả nghiên cứu của Vũ Huy Hoàng và ctv (2013) cho thấy tốc độ quang hợp và tốc độ tích lũy chất khô của cỏ lồng vực cao hơn lúa ở tất cả các giai đoạn tăng trưởng mặc dù độ dẫn của khí không, tốc độ thoát hơi nước và giá trị SPAD của lúa cao hơn so với cỏ lồng vực. Tốc độ quang hợp, tốc độ tích lũy chất khô và hàm lượng nitơ trong lá cũng tăng lên ở cả lúa và cỏ lồng vực khi nồng độ nitơ tăng. Theo nghiên cứu của Heap (2017) đã cho thấy rang, phần lớn Echinochloa spp. đã kháng với hầu hết các hoạt chất có sẵn trên thị trường.
Allelopathy đã được công nhận là một cơ chế mạnh mẽ của sự xâm lan của cỏ dai trong lĩnh vực này vì các allelochemicals được tìm thấy trong vùng rễ của cỏ dai có thé ức chế sự phát triển của cây trồng (Lorenzo va ctv, 2013). crus-galli là một loại cỏ với tiềm năng cạnh tranh allelopathic mạnh trong nhiều loại cây trồng (Chung va ctv, 2001). Khả năng kháng thuốc của cỏ dại và phương pháp xác định tính kháng 1. Tính kháng thuốc diệt có của cỏ dại Sau khi thuốc diệt cỏ được giới thiệu trên thị trường, sự tiền hóa của tính kháng thuốc điệt cỏ trong co dại đã được Blackman (1950) dự đoán.
Trường hợp đầu tiên về kháng atrazine và simazine được tìm thấy vào năm 1968 và lần đầu tiên được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm 1970, loại cỏ dại này đã tiễn hóa kháng thuốc diệt cỏ ức chế vận chuyền điện tử trong hệ thống quang điện tử II (thuốc ức chế PSII) sau khi thuốc diệt cỏ được sử dụng một hoặc hai lần mỗi năm trong 10 năm (Ryan, 1970). Định nghĩa về tính kháng thuốc diệt cỏ đã được một số tác giả đề cập, theo Heap và ctv (1993), tinh kháng thuốc diệt cỏ là khả năng tiến hóa của quan thé cỏ dai dé bị nhiễm thuốc diệt cỏ trước đây đề chống lại thuốc diệt cỏ và hoàn thành vòng đời của nó khi thuốc diệt cỏ được sử dụng ở mức bình thường trong tình huống nông nghiệp. Uy ban hoạt động về tinh kháng thuốc diệt cỏ (HRAC, 2017) định nghĩa, khả năng kháng thuốc diệt cỏ là khả năng di truyền tự nhiên của một số kiểu gen cỏ đại trong một quan thé cỏ đại nhất định dé sống sót khi điều trị bằng thuốc diệt cỏ trong điều kiện sử dụng bình thường, sẽ kiểm soát hiệu quả quan thé cỏ dai đó. Lựa chon các kiểu gen kháng thuốc có thé dẫn đến that bại trong kiểm soát.
WSSA (Weed Science Society of America, 1998) cũng phân biệt kháng thuốc diệt co và khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ như sau: Kháng thuốc diệt cỏ là khả năng di truyền của một cây dé sinh tồn và hồi phục sau khi tiếp xúc với một liều thuốc diệt cỏ thường gây chết các loại hoang da. Đối với cây trồng, sự kháng thuốc có thé xảy ra một cách tự nhiên hoặc gây ra bởi các kỹ thuật như kỹ thuật di truyền hoặc lựa chọn các biến thé được tạo ra bởi nuôi cay mô hoặc gây đột biến. Tổ chức bảo vệ thực vật châu Âu và Địa Trung Hải (OEPP/ EPPO) mô tả khả năng kháng thuốc diệt cỏ như là sự điều chỉnh tự nhiên, điều chỉnh theo khả năng của các cá nhân trong quan thé dé tồn tại trong sản phẩm bảo vệ thực vật thường mang lại sự kiểm soát hiệu quả. Các hướng dẫn của EPPO giới thiệu một sự khác biệt giữa kháng thuốc có thê được xác minh ở cấp độ phòng thí nghiệm và sức đề kháng quan sát được trong tình huéng thực tế ngoài đồng ruộng, được gọi là sức đề kháng thực tế, và được định nghĩa là sự mat kiểm soát đồng ruộng do sự thay đôi nhạy cảm.
Theo sự khác biệt này, việc phát hiện kháng thuốc diét cỏ ở cấp độ phòng thí nghiệm không phải lúc nào cũng liên quan đến việc giảm sự kiểm soát dịch hại đó trên đồng ruộng (EPPO, 1988). Cây trồng kháng thuốc diệt cỏ thường tôn tại ở bat kỳ quan thé cỏ dai nào ở mức độ thấp hơn trước khi sử dụng thuốc diét cỏ, nhưng áp lực chọn lọc liên tục do thuốc diệt cỏ gây ra cho cây trồng cho phép sức đề kháng tăng tần số (Jasieniuk và ctv, 1996). Một số yếu tố góp phan vào sự tiến hóa của tính kháng thuốc diệt cỏ ở bat kỳ loài cỏ dai nào, bao gồm tần số alen kháng trong quan thé, số lượng và phương thức sử dụng thuốc diệt cỏ, hiệu quả của liều lượng sử dụng, hạt giống trong đất và các yếu tô sinh học khác (Preston và Powles, 2002). Nhìn chung, ngoài quần thể kháng thuốc đã có từ trước, sự đi chuyên của gen (thông qua hạt hoặc phan hoa phụ thuộc vào loài) từ quan thé kháng ở các vùng lân cận cũng trở thành nguồn gen kháng mới trong nhóm gen của quan thể.
Các đột biến gen liên quan đến tính kháng với một loại thuốc diét cỏ cụ thể không được gây ra bằng cách áp dụng thuốc điệt cỏ, mà là xảy ra tự nhiên (Jasieniuk và ctv, 1996). TẦm quan trọng của quản lý kháng thuốc diệt cỏ Kiểm soát cỏ dại bằng thuốc điệt cỏ là một trong những phương pháp hiệu quả nhất dé quản lý cỏ dai trong sản xuất cây trồng quy mô lớn trên toàn thé giới. Tuy nhiên, tương tự như các giải pháp sử dụng hóa chất khác, quản lý cỏ dại bằng thuốc diệt cỏ đã cho thấy cả ưu điểm và nhược điểm. Thời gian xử lý thuốc diệt cỏ dé kiểm soát cỏ đại có thé được phân loại theo tiền nảy mam và hậu nảy mam, sự khác biệt dựa trên cơ chế và thời gian áp dụng của thuốc diệt cỏ cụ thé chống lại cỏ dại mục tiêu.