ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi bò đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân và chính phủ Việt Nam. Theo thời gian, quy mô chăn nuôi bò sữa ở nước ta dần được phát triển ngày càng rộng rãi trên các vùng miền của cả nước như Hà Nội, Sơn La, Nghệ An, Lào Cai… Theo Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), tính đến 01/2020, số lượng bò sữa của Việt Nam đạt 317.729 con, phân bố khắp cả nước nhưng trong đó vùng Đông Nam Bộ chiếm hơn 1/3 tổng đàn sau đó đến Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chiếm 1/4 tổng đàn. Theo số liệu ngày 1/10/2018 của Tổng cục Thống kê, tổng sản lượng sữa tươi nguyên liệu sản xuất trong nước đạt 936 ngàn tấn. Việt Nam cũng là quốc gia sở hữu hệ thống trang trại bò sữa chuẩn Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (GlobalGAP) lớn nhất châu Á.
Tại Đan Mạch: 55% diện tích đất được sử dụng trong nông nghiệp. Từ cuối thế kỷ 19, chăn nuôi bò sữa đã trở thành thế mạnh về chăn nuôi ở đất nước này. Hầu hết sản xuất cây trồng được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Do những khủng hoảng trong những năm gần đây, vai trò của nông nghiệp Đan Mạch đã giảm nhẹ.
Số lượng trang trại giảm hơn 1/2 so với năm 1975, quy mô của các lô đất bắt đầu giảm. Tuy nhiên, Đan Mạch vẫn là một trong những quốc gia phát triển mạnh về nông nghiệp công nghệ cao. Đan Mạch hiện có khoảng hơn 1,6 triệu con gia súc, trong đó có 580 nghìn con là bò sữa.700 trang trại bò sữa ở Đan Mạch sản xuất cùng một lượng sữa bằng lượng sữa sản xuất của 141.000 trang trại cách đây 50 năm. Số gia súc trung bình của một trang trại là 156 con.
Hiện nay có những trang trại lớn với số công nhân lên tới 500 người. Sản lượng sữa của đàn bò trung bình mỗi năm khoảng 1,4 triệu lít. Để tìm hiểu thêm về tình hình chăn nuôi bò sữa tại Đan Mạch, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh sản và 11 năng suất sữa của đàn bò Danish Holstein tại Fjelsø - Nordjylland Møller Dairy Farm”. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU Đánh giá được tình hình sinh sản và năng suất sữa của đàn bò sữa nuôi tại trang trại Số liệu thu thập chính xác, khách quan.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN TRÊN BÒ 2. Đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái a. Chu kỳ động dục Sau khi đã thành thục về tính thì tính dục của bò cái diễn ra liên tục và có tính chu kỳ từ 18-24 ngày.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) những gia súc có chu kỳ động dục ngắn hơn 17 ngày và dài hơn 24 ngày thường có tỷ lệ thụ thai thấp. Chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài và được chia làm các giai đoạn riêng biệt liên tiếp nhau: • Giai đoạn tiền động dục (trước chịu đực): Gồm các biểu hiện như ngửi bò khác, bồn chồn, tìm kiếm bò cái khác hoặc bò đực. Cố nhảy lên con khác nhưng không đứng yên khi bị bò cái khác hoặc bò đực nhảy lên lưng. Thích gần người, thỉnh thoảng kêu rống lên.
Âm hộ đỏ ướt hơi sưng phồng lên. Giảm lượng ăn vào, sữa giảm. Các biểu hiện ở giai đoạn này thay đổi nhiều và không giống nhau ở mỗi bò. Có thể kéo dài từ một vài gờ đến một ngày hoặc hơn.
Gặp các dấu hiệu này cần báo ngay cho dẫn tinh viên biết để theo dõi và quyết định việc phối giống và thời điểm phối. Trong thụ tinh nhân tạo (TTNT) không nên phối giống ở giai đoạn này vì tỷ lệ đậu thai thấp, gây tổn hại cơ quan sinh dục cái. • Giai đoạn động dục (chịu đực): Giai đoạn này kéo dài khoảng 6-30 giờ và có các biểu hiện như đứng yên cho bò khác nhảy lên. Bồn chồn và kêu rống thường xuyên, thích ngửi cơ quan sinh dục bò khác.
Tai dựng lên tỏ vẻ dễ gần hơn, xương sống lưng cong lên, dịch nhờn tiết ra lúc đầu lỏng sau đặc kéo thành sợi. Tính thèm ăn giảm, sữa giảm, thân nhiệt thường cao hơn 1°C. Khi TTNT thì phối tinh cho bò cái vào nửa ngày sau của giai đoạn này. Khi cho bò đực nhảy trực tiếp thì cho nhảy ngay từ nửa đầu giai đoạn bò bắt đầu 13 chịu đực.
Thời gian động dục đứng yên phụ thuộc giống và khí hậu. Bò sữa, bò chuyên thịt thời gian này ngắn hơn so với bò địa phương. Bò HF nuôi ở xứ nóng thời gian chịu đực ngắn hơn so với nuôi ở xứ lạnh. Giai đoạn sau động dục: Sau giai đoạn động dục, một số bò tiếp tục hoạt động, chủ yếu là hoạt động thụ động.
Khoảng 1-2 ngày sau khi kết thúc giai đoạn động dục, nhiều bò có thể quan sát thấy máu chảy ra từ âm hộ. Điều này là sinh lý bình thường, không liên quan đến đậu thai hay sự rụng trứng, chỉ có ý nghĩa là bò đã động dục trước đó 1-2 ngày. Sự điều hòa nội tiết trong chu kỳ động dục Sự điều hòa hoạt động sinh dục của bò cái bằng sự phối hợp thần kinh – Nội tiết trong trục dưới đồi – Tuyến yên – Buồng trứng. Thông tin nội tiết được bắt đầu bằng việc tiết GnRH (Gonadotrophin Releasing Hormone) từ vùng dưới đồi (Hypothalamus), GnRH tác động làm chuyển đổi thông tin thần kinh trong não thành tín hiệu nội tiết để kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết ra 2 loại hormone là FSH (Follicle Stimulating Hormone) và LH (Luteinizing Hormone).
FSH và LH được tiết vào hệ tuần hoàn chung và được đưa đến buồng trứng, kích thích buồng trứng tiết ra oestrogen, progeststeron. Các hormon buồng trứng này cũng có ảnh hưởng đến việc tiết GnRH, LH và FSH thông qua cơ chế tác động ngược. Progesteron chủ yếu tác động lên vùng dưới đồi để ức chế tiết GnRH, trong khi đó oestrogen tác động lên thuỳ trước tuyến yên để điều tiết FSH và LH FSH (Follicle Stimulating Hormone) do thùy trước tuyến yên tiết ra kích thích nang trứng phát triển thành dạng nang trứng chín và làm tăng sinh cơ quan sinh sản và các hoạt động trao đổi chất khác phục vụ cho quá trình trứng rụng sau này LH (Luteinizing Hormone) cũng do thùy trước tuyến yên tiết ra, nồng độ tăng dần và đạt cao nhất để gây hiện tượng rụng trứng. 14 Tỷ lệ (LH/FSH = 3/1) và áp lực dịch nang trứng lớn gây rụng trứng.
Trong thời kỳ động dục, dưới tác động của FSH do tuyến yên tiết ra thì một số noãn bao buồng trứng phát triển nhanh chóng và oestradiol được tiết ra tăng dần. Oestradiol kích thích huyết mạch và tăng trưởng của tế bào đường sinh dục cái để chuẩn bị cho quá trình giao phối và thụ tinh. FSH và LH đều thúc đẩy sự phát triển của noãn bao đến giai đoạn cuối. Khi hàm lượng oestradiol trong máu cao sẽ kích thích gây ra hiện tượng động dục, sau đó trứng sẽ rụng theo từng đợt sóng tăng tiết LH từ tuyến yên đồng thời kích thích vùng dưới đồi tăng tiết GnRH.
Sóng LH cần cho sự rụng trứng và hình thành thể vàng vì nó kích thích trứng chín, làm tăng hoạt lực của các enzym phân giải protein để phá vỡ các mô liên kết trong vách noãn bao, kích thích noãn bao tổng hợp Prostaglandin là chất có vai trò quan trọng trong việc phá hủy thể vàng. Trứng rụng, phần còn lại của nang trứng biệt hóa và phát triển thành thể vàng. Tổ chức nội tiết của thể vàng tiết progesterone ức chế động dục, dưỡng phôi kích thích phát triển tuyến sữa phát triển. Trong thời gian đầu có chửa nếu nồng độ progesterone thấp dễ gây sảy thai và nó đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ này, khi mà tuyến nhau thai chưa phát triển.
Progesterone bằng con đường liên hệ ngược âm tính ức chế giải phóng các hormone sinh sản để an thai bằng cách ức chế tử cung co bóp. Nếu trứng rụng của chu kỳ trước mà không được thụ tinh thì đến khoảng ngày 17-18 của chu kỳ sinh dục nội mạc tử cung sẽ tiết ra PGF2α, hormone này có tác dụng làm tiêu thể vàng và kết thúc pha thể vàng của chu kỳ. Kết quả là noãn bao trội tăng tiết oestradiol và gây ra giai đoạn tiền động dục chu kỳ mới. Sự thụ tinh Khi con vật ở giai đoạn động dục chịu đực, noãn từ buồng trứng được phóng ra ngoài, được loa vòi trứng hút vào trong vòi trứng.
Nếu có tinh trùng ở âm đạo, tinh trùng di chuyển nhanh về phía cổ tử cung, buồng tử cung và vòi 15 trứng để gặp noãn sau đó xảy ra hiện tượng thụ tinh. Kết quả của sự thụ tinh là sinh ra một tế bào mới gọi là hợp tử, sau này là phôi và phát triển thành một cơ thể mới khác với bố mẹ nhưng mang đặc điểm di truyền của bố, mẹ cùng với đặc điểm di truyền của loài. Quá trình mang thai Thai được tính từ ngày phối giống có kết quả đến ngày đẻ. Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều yếu tố như: tuổi của mẹ, điều kiện chăm sóc, chế độ khai thác sử dụng, có thể là tính biệt của thai, dao động 280-290 ngày.
Quá trình mang thai chia thành 3 thời kỳ cơ bản: thời kỳ phôi (1-34 ngày tuổi), thời kỳ tiền thai (35-60 ngày tuổi), thời kỳ bào thai (từ 61 ngày đến ngày đẻ). Theo Trần Trọng Thêm (1986), đối với đàn bò HF nuôi tại trung tâm giống bò sữa Sao Đỏ, thời gian có chửa là 279,87 ngày. Thời gian chửa của bò Sind đỏ Philipin là 280 ngày (252-299) và bò Pakistan là 285 ngày (257-328). Sự hồi phục sau khi đẻ Khi đẻ tử cung co bóp để đẩy thai ra ngoài.
Sau đó nó co lại như kích thước ban đầu. Đối với bò từ lâu người ta cho rằng cần 3 tuần để hồi phục bộ máy sinh dục. Nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy đối với bò đẻ lứa đầu cần khoảng 42 ngày, bò đẻ nhiều cần khoảng 50 ngày. Đối với tử cung khi thăm khám qua trực tràng thấy hồi phục gần như hoàn toàn sau khoảng 18 ngày.
Nguyễn Trọng Tiến và cs. (1991) cho biết là khoảng 60 ngày sau khi đẻ có 75% số bò cái có cơ quan sinh dục được hồi phục, sau 75 ngày có 87%. Đối với bò đẻ khó sót nhau là 4 tháng. Theo Nguyễn Kim Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) đã khẳng định là không nên phối giống bò cái trước 60 ngày sau đẻ vì thời gian cần thiết để tử cung hồi phục sau khi đẻ là từ 30-50 ngày.
CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN 2.