Đặt vấn đề Thủy sản là một trong những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của ngành nông nghiệp Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt hàng tỷ USD mỗi năm. Theo hiệp hội chế biến và xuất khâu thủy sản Việt Nam đến hết tháng 10 năm 2022, xuất khâu tôm đạt gần 3,8 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến, kim ngạch xuất khâu tôm cả năm 2022 đạt trên 4,4 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2021. Trong đó tôm thẻ chân trắng là sản phẩm xuất khâu chủ lực, chiếm 75% với khoảng trên 3,2 tỷ USD, tôm sú chiếm khoảng 13% với gần 0,5 tỷ USD (VASEP, 2022).
Đây là một chuyên biến tích cực của nên kinh tế sau sự xuất hiện của đại dich Covid-19 Trong thời gian gần đây, việc biến đồi khí hậu thất thường làm cho việc nuôi tôm ngày càng trở nên khó khăn. Các biến đôi thời tiết như nắng nóng kéo dài, độ mặn tăng cao và xâm nhập sâu làm phát sinh nhiều dịch bệnh có tính chất ngày càng phức tạp, dễ lây lan và gây chết hàng loạt, trong đó bệnh dém trắng là một trong những bệnh nguy hiểm và gây nên thiệt hại to lớn cho người nuôi tôm vì khi tôm mắc bệnh đốm trắng, tôm nhiễm bệnh có tỷ lệ chết lên tới 100% trong vòng 3 - 10 ngày (Namikoshi và ctv. Hiện nay bệnh đốm trang do White Spot Syndrome Virus (WSSV) gây ra van chưa có thuốc điều trị, khi tôm bi nhiễm đốm trang người dân thường sử dụng các loại thuốc kháng sinh và thuốc hóa học đề giảm thiểu tối đa thiệt hại do bệnh đốm trang gây ra, nhưng việc lạm dụng thuốc hóa học và thuốc kháng sinh có thé dẫn đến việc tồn lưu các chất kháng sinh trong cơ thể vật nuôi, ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường nước, và đặc biệt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc xuất khẩu của tôm Việt Nam. Theo Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT, 2017), từ năm 2020, Việt Nam sẽ dừng hắn việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và thủy sản.
Do đó, cần phải tìm ra những biện pháp sinh học an toàn, hiệu quả trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh đốm trắng do WSSV gây ra. Vì thế, các nghiên cứu về tác dụng của các loại thảo dược trong việc phòng trị bệnh đóm trắng đã được tập trung nghiên cứu và đang mang lại những kết quả tích cực. Theo Thavasimuthu Citarasu và ctv., (2006), sử dụng hỗn hợp dịch ly trích từ cỏ đuôi gà (Cynodon dactylon), bầu nâu (Aegle marmelos), Tinospora cordifolia, Picrorhiza kurooa và cỏ mực (Eclipta alba Hassk) trộn vào thức ăn cho RPS lên đến 74%. Theo 1 Yogeeswaran và ctv., (2012) dùng hỗn hợp thảo dược: Tai tượng An Độ (Acalypha indica), Cỏ đuôi gà (Cynodon dactylon), Picrorrhiza kurrooa, Sâm An Độ va Gừng (Zingiber officinalis) trộn vào thức ăn với liều lượng là 2.000 mg/kg và công độc lại với WSSV cho thấy RPS tới 60%.
Theo Bui Thị Thanh Tinh và ctv, (2018), đã đánh giá in vitro 15 loai cao chiét thao dugc cho thay 8 loại thao dược có hoạt tính kháng WSSV ở nông độ khảo sát 0,0025 mg/mL. Theo Sanjoy Banerjee và ctv., (2013), nước ép lá Neem (Azadirachta indica) có hoạt tính kháng khuẩn và rất hữu ich trong việc ức chế Vibrio spp. Từ những kết quả tích cực ké trên, cho thấy cao chiết thảo duoc đang mang đến những dấu hiệu tích cực trong việc phòng ngừa WSSV. Vi thế, nhóm nghiên cứu trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM đã chiết xuất hoạt chất từ cao chiết Neem bằng các loại dung môi khác nhau và kết hợp với Trung tâm Công Nghệ Sinh Học TP.HCM dé đánh giá hoạt tính của năm loại cao chiết trong việc phòng ngừa WSSV, trong đề tài này sẽ đánh giá khả năng phòng ngừa White Spot Syndrome Virus (WSSV) của cao chiết cây Neem (Azadirachta indica) trên tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei).
Mục tiêu đề tài Tìm ra nồng độ và loại cao chiết cây Neem (Azadirachta indica) tối ưu trong việc phòng ngừa và điều trị White Spot Syndrome Virus (WSSV) gây bệnh đôm trắng trên tôm thẻ chân trang (Litopenaeus vannamei) 1. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá in vitro khả năng kháng White Spot Syndrome Virus của cao Neem trên tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei. Nội dung 2: Đánh giá in vivo kha năng phòng ngừa White Spot Syndrome Virus của cao Neem trên tôm thẻ chân trang Litopenaeus vannamei. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Giới thiệu về tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) 2. Phân loại khoa học Tôm thẻ chân trang tên khoa hoc: Litopenaeus vannamei, thuộc giới: Animalia, ngành: Arthropoda, phan ngành: Crustacea, lớp: Malacostraca, bộ: Decapoda, phan bộ: Dendrobranchiata, họ: Penaeidae, chi: Litopenaeus, loài: L. vannamei, theo tong cuc thuy san, (2021). Đặc điểm phân bố của tôm thé chân trắng (Litopenaeus vannamei) Tôm thẻ chân trắng (Bone, 1931), có nguồn gốc từ bờ biển Đông Thái Bình Duong là loài tôm nhiệt đới có phạm vi nhiệt độ thích hợp là 25 - 32°C và khoảng độ mặn rộng từ 0,5 - 45%o (Trần Viết Mỹ, 2009).
Tôm thẻ chân trăng được đưa vào Việt Nam năm 2001 nuôi ở mức độ thử nghiệm. Đến năm 2006, Bộ NN&PTNT cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng từ Quảng Bình đến Bình Thuận; năm 2008, được nuôi ở các tỉnh phía Nam. Cả diện tích và sản lượng tôm thẻ đều tăng qua các năm. Theo tổng cục thủy sản 10 tháng đầu năm 2019 diện tích nuôi tôm nước lợ Việt Nam đạt 713.402 ha, trong đó diện tích nuôi thả tôm thẻ chân trắng là 99.740 ha, vượt mạnh so với tôm sú.
Đặc điểm sinh trưởng của tôm thé chân trắng (Litopenaeus vannamei) Tôm thẻ chân trắng thường có mau trắng trong mờ, nhưng có thé thay đồi tùy thuộc vào môi trường song, thức ăn va độ đục của nước (FAO, 2009), Tổng quan hình thái bên ngoài tôm thẻ chân trắng toàn thân được bao bọc bởi lớp vỏ chitin. Cơ thể của tôm thẻ chân trắng được chia làm hai phần đầu ngực và phần bụng. Tôm thẻ chân trang có râu dài vừa phải dùng dé giữ thăng bằng, với 7 - 10 răng trên mặt lưng và 2 - 4 răng trên mặt bụng, Trong điều kiện nuôi trong ao đất, tốc độ tăng trưởng phô biến 1,0 - 1,5 g/tuần với tỷ lệ sống từ 80 - 90% và trong hệ thong nuôi tôm thâm canh khoảng có thé nuôi với mật độ 400 - 500 con/m? (Mathew Briggs và ctv. Kích thước tối đa của tôm thẻ chân trang là 23 cm, con cái thường phát triển nhanh hơn va lớn hon con đực, con đực trưởng thành từ 20 g và con cái từ 28 g trở đi khi được 6 - 7 tháng tuổi.
tôm thẻ chân trắng nặng 30 - 45 g sẽ đẻ 100 000 - 250 000 trứng có đường kính khoảng 0,22 mm, quá trình nở xảy ra khoảng 16 giờ sau khi sinh sản và thụ tinh (FAO, 2009). Tuyến Anten Mắt Chủy Dạ dày Gan tuy Te Pp bac = Đường ruột Chân hàm Chân tim Hàm “ey ỷ lớn nhỏ ta EE 4 ị Chân ngực Chân bung Đuôi quạt Đốt đuôi Hình 2. Cấu tạo tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) nguồn: https://tepbac.com/tin-tuc/full/32333. Tổng quan về White Spot Syndrome Virus (WSSV) gây bệnh đốm trắng trên tôm thẻ chân trắng 2.1 Tông quan về White Spot Syndrome Virus (WSSV) Virus gây bệnh dém trang (White Spot Syndrome Virus - WSSV) được phân loại bởi ủy ban quốc tế về phân loại Virus (ICTV) là thành viên duy nhất của chi Whispovirus trong họ Nimaviridae.
Các virion của WSSV có hình ovoid hoặc ellipsoid đến bacilliform, có kích thước từ 80 - 120 nm đường kính và 250 - 380 nm chiều dài (Han- Ching Wang và ctv. Theo Hsin-Yiu Chou và ctv. Virus gây bệnh đốm trắng (White Spot Syndrome Virus - WSSV) có bộ gen lớn (~300 kb) (Feng Yang va ctv., 2001) và có phạm vi vật chủ rộng, bao gồm hầu hết các loài giáp xác và cả côn trùng thủy sinh (Yan-Wei Tan và Zheng-Li Shi, 2011), với khả năng lan truyền bệnh và gây chết tôm hàng loạt, bệnh đốm trắng đã gây thiệt hại lớn và gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền công nghiệp nuôi tôm của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hình thái virus đốm trang.
a) Hinh thdi virus đốm trăng, b) Vĩ anh của WSSV với phan phụ giong đuôi (Thang do = 250 nm) (Nguon: Durand, 1996) 2. Bệnh đốm trang (White Spot Disease) Bệnh đốm trắng (WSD) là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, thường gặp ở các loài thuộc họ tôm he. Bệnh có khả năng lây lan cao và gây chết tôm một cách nhanh chóng. Khi ao nuôi bị nhiễm bệnh đốm trắng có khả năng gây ty lệ chết tôm rat cao từ 90% - 100% chỉ sau 3-10 ngày nhiễm bệnh (Namikoshi và ctv.
Sức khỏe tom Bing phát bênh Hình 2. Sơ đồ nguyên nhân gây bệnh đốm trắng (nguồn: Bùi Quang Tế, 2006) Bệnh đốm trắng trên tôm do virus đốm trang White Spot Syndrome Virus - WSSV gây ra do thời tiết bất thường, vùng nuôi ô nhiễm là nguyên nhân chính gây nên bệnh đốm trang trên tôm (Bùi Quang Tê, 2006). Ngoài ra, có một số tác nhân khác dẫn đến bệnh đốm trang hình 2. Dấu hiệu bệnh lý Khi tôm nhiễm bệnh có các dau hiệu như hoạt động kém, trên tôm xuất hiện nhiều đốm trắng đồng đều kích thước 0,5 - 2,0 mm bên trong vỏ, xuất hiện bệnh đỏ thân, bơi lờ do ở mặt nước hay dạt vào bờ, phần phụ bị tôn thương, nap mang phông lên và vỏ có nhiều sinh vật bám (Bùi Quang Tê, 2006).3 Giới thiệu về cây Neem (Azadirachta indica) 2.1 Phân loại khoa học Cây Neem còn được gọi là cây sầu đâu (Phạm Hoàng Hộ, 1992), có tên khoa học là Azadirachta indica thuộc họ Meliaceae có xuất sứ từ An Độ, là loại cây sinh trưởng nhanh, cao tới 30 m, cành lá xòe rộng, sống được trên hầu hết các loại đất, kế cả đất mặn, kiềm và các loại đất hoang khác, xanh tốt quanh năm.
Ở Việt Nam, cây Neem được trồng chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, địa phương có khí hậu khô cạn nhất nước ta. Hiện tại cây neem được trồng với mục đích phủ xanh đất trống, cải tạo môi trường. Tuy nhiên với những đặc tính sinh học, chiết xuât từ cây neem (Neem leave extraction - NLE) đã tạo ra nhiêu sản phâm chứa nhiêu hợp chất có tác dụng phòng trị bệnh giun sán cho người, gia súc và thủy sản (Nguyễn Thanh Bình và ctv.2 Tác dụng của cây Neem (Azadirachta indica) Neem là một nguồn tài nguyên tái tạo của các sản phẩm nông nghiệp và mang lại nhiều tác dụng khác nhau, bao gồm thức ăn gia súc, thuốc, công nghiệp xà phòng, phân giải phóng chất dinh dưỡng chậm, nhiên liệu, năng lượng, kiểm soát dịch hại, và những thứ khác (Dinesh Kumar và ctv. Theo Siddiqui và ctv., (1942), đã tách chiết được 3 hoạt chất trong Neem là nimbin, nimbidin và nimbinin.