Đặt vấn đề Li lụt là những thiên tai bắt nguồn từ khí hậu do lượng mưa trong mùa mưa lớn. Trong những thập ky „ cùng với sự phát triển kinh lũ lụt đã gây ra những thiệt hại rit nặng nề, “Thiên tai lũ lụt ở Việt Nam đã từ lâu là một vấn đề nghiêm trọng tác động rất xấu đến hoạt động phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Lũ lụt có thé xảy ra mọi lúc mọi nơi trên các lưu vực sông suối. Hiện nay do biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai mưa, bão, lũ bi phức tạp và xuất hiện với tần suất cao, gây hậu quả nặng ‘ho các nước trên thể.
giới và nước ta. Việt Nam có diện tích tự nhiên gần 331.000km”, kéo dài từ tiến 8°30" đến 23'22' vĩ độ Bắc và từ kinh tuyến 10210" n 109021) kinh độ. Đông, trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa nên chịu tác động rất mạnh của các loại thiên tai, trước hết là lũ lụt. Việt Nam phần lớn là đồi, núi cao hiểm tở, chia mạnh, đốc nên mạng lưới sông suối dày.
Việt Nam có 2360 sông suối có chiều dai mỗi sông trên 10 km, phân bố đều ở các vùng. lưới sông thường 0., ở ving núi Hoàng liên sơn, thượng nguồn sông Thu Bồn lên tới 1.0 km/km”, nhưng vùng núi đá vôi, chỉ dưới 0. Các đồng bằng ven biển không lớn, tring thấp, dễ bị ngập lũ hoặc ting lụt khi mưa lớn lớn, nhưng dân cư đông, chiếm trên 20% dân số cả nước, với nhiễu trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội rét quan trọng và khá phát triển Sông ngồi được nuôi dưỡng bằng nguồn nước mưa rất đỗi dio, nhưng. phân bố rit không đều trong năm.
Mùa mưa xảy ra không ding thời ở các vùng và thường mưa tới 70-80% tông lượng mưa năm. Mưa thường tập trung. trong thời gian ngắn. Doin Minh Nghia TUẬN VAN THẠC SẼ “Tổng lượng nước trung bình nhiều năm của sông ngồi Việt Nam đạt gin 650 km/năm, độ sâu dòng chảy trung bình năm đạt 960 mm, lớn gap 4.
lần so với độ sâu dong chảy trung bình toàn châu A, gấp hơn 3 lần độ sâu dong chảy trung bình năm trên toàn lục địa của Trái Chế độ dong chảy. xông phân làm 2 mùa rõ rét, mùa lũ và cạn. Tùy theo sông, mức chênh lệch. dong chảy mùa lũ và mùa cạn có thé từ 1,5 đến 30 lần.
Do phải chuyển tải lượng nước quá lớn, gây nên lũ lớn trên các triỀn sông. Các sông thường ngắn, dốc nên lũ lên rất nhanh và tập trung nhanh về hạ lưu trong khi khả năng thoát nước ra biển lại kém nên vùng đồng bằng thường xuyên bị ngập lụt Lich sử nước ta không ghỉ lại đầy đủ những số liệu về các trận lụt lớn trong các thé kỷ trước, nhưng chúng ta cũng biết nhiều vé trận lụt dẫn đến nan chết đói hơn hai triệu người năm 1945 và trận lũ lịch sử năm 1971 gây vỡ đê làm ngập lụt nghiêm trọng nhiều tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Tại miền Trung, lũ lụt nghiêm trọng trên diện rộng đã xây ra năm 1964 tại các tỉnh từ Quảng Bình vào Phú Yên; lũ lịch sử làm vỡ đê gây ngập lụt lớn trên sông Cả, La năm 1978, Gan đây, năm 1998, 1999, lũ lịch sử liên tếp trên các sông thuộc các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hòa gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hầu như cứ 3-4 năm lại lụt lớn; lụt nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về người và của trong năm 1961, 1966, 1996.
“Từ 1971 đến 1998, thiệt hai do thiên tai gây ra ở nước ta, trong đó 10 lụt chiếm phần chủ yếu, lên tới hang tỷ đô la Mỹ, 12.000 người chết và mắt tích. “Trước thiên tai lũ lụt xá ra thường xuyên và tan khốc đó, người Việt từ lâu đã biết sử dụng các biện pháp công trình và phi công trình để phòng chống, giảm thiệt hại, dẫn din hình thánh những sách lược, chiến lược khác nhau để phòng tránh, giảm thiệt hại Doin Minh Nghia TUẬN VAN THẠC SẼ Hang năm, tùy theo thời tiét mà mùa lũ có thé đến sớm hoặc muộn hơn. La quá sớm hoặc quá muộn cũng như các trận lũ lớn chính vụ đều gây thi hại nghiêm trọng. Dòng chảy sông phân phối không đều trong mùa lũ.
Thông thường, dong chảy các tháng lũ chính vụ thường lớn nhất, chiếm từ 20-30% dòng chảy năm. Dòng chảy các tháng đầu mùa và cụ mùa thường chiếm khoảng 10- 15% dong chảy năm. Dòng chảy lũ tập trung trong thời kỳ chính vụ. Trong thé ky XX, lũ thời kỳ chính vụ( tháng VIL, VIII ) đã gây lụt lớn ở đồng bằng Bắc.
Cường suất lũ, biên độ lũ, đỉnh lũ trên các sông thường rat lớn, lũ ác liệt, tập trung nhanh về đồng bằng nhỏ hẹp hạ lưu. Cường suất lũ trên các sông ở vùng núi có thể lên đến 2-5 m/giờ; ở đồng bằng hạ lưu các sông, có. Biên độ lũ các sông miễn núi có thể 10-20m, có nơi trên 30m. (Lai Châu): ở vùng đồng bằng, thường từ 3-8, cao hơn các vùng trũng ven xông khoảng 2-5m nên uy hiếp rất lớn vùng ven sông.
Thời gian duy ti lũ, thời gian ngập lụt ở vùng đồng bằng hạ lưu các sông thường kéo dài một vài ngày ở ven biển miền Trung Bộ, nhiều ngày ở Bắc Bộ. La lụt diễn biến càng phức tạp hơn, gây thiệt hại càng nghiêm trong hơn khi kết hợp với bão, nước biển dâng, mưa lớn và triều cường. lụt, mưa, bão, nước dâng có thể xảy ra đồng thời ở vùng cửa sông ven biển nước ta. Hoạt động khai thác, sử dụng đất, phát triển dân cư, kinh tế có ảnh hưởi At lớn đến gia tăng l lụt cả về nhịp độ và độ lớn.
Do hoạt động kinh tế, độ che phổ rừng trên lưu vực giảm từ 45% diện tích năm 1945 xuống Khoảng 26% trong năm 1998; nhiều lưu vực rừng chỉ còn 5-10% diện tích; làm gia tăng lũ quế, uy hiếp ving thung lũng sông, vũng đồng bing. Doin Minh Nghia TUẬN VAN THẠC SẼ Đồng bằng và trung du Bắc Bộ chịu tác động yếu của lũ, ting, nước biển dang. Hệ thống dé sông, đê biển và nhiều công trình phòng lũ khác (hd chứa, công trình phân I, chậm I.) đã và dang bảo vệ cho đồng bằng ngày một an toàn hơn. Trong khi hệ thống các biện pháp công trình hiện tại chưa đủ.
năng lực dé loại trừ một cách cơ bản hiém họa lũ lụtthì lũ lụt, ngập ding vẫn uy hiếp nghiêm trọng sự an toàn của đồng bằng Bắc Bộ. Khi lũ lớn trên sông. lại gặp triều cường hoặc bão mạnh như trong năm 1964, 1969, 1971, 1986, 1996 thì nguy cơ vỡ dé, ngập lụt điện rộng là rất khó tránh khỏi. Những trận lũ lịch sử đang nhắc nhở chúng ta phải cảnh giác đề phòng, đổi phó tích cực hơn với thiên tai lũ lụt ở Bắc Bộ.1 Thigt hại do lũ, lụt gây ra “Thiệt hại vật chat, trong đó quan trọng nhất là các công trình, thông tin liên lạc, nhà ở, ruộng vườn, phương tiện canh tác, sản xuất, cây trồng và các.
tài sản khác. Thiệt hại vật chất phụ thuộc nhiều vào loại lũ, tính chất 10, khu vực và thời gian bị tác động. “Thương vong và sức khỏe cộng đồng. Lũ lụt với đồng chảy mạnh, ngập.
sâu thường gây chết người, động vật, gây bị thương, bị tác động tâm lý. nhất là đổi với trẻ em và người già yếu, bệnh tật. Nhiễu loại bệnh dịch có thể phát sinh, ảnh hưởng tới sinh hoạt văn hóa, tỉnh thần, hoạt động kinh tế, xã hội khác của dân cư vùng ngập Lũ lụt xảy ra thì các nguồn nước mặt, các giếng hở, giếng cấp nước. ngằm thường bị 6 nhiễm.
Việc cấp nước sạch cho sinh hoạt bị gián đoạn, có thé trong một số ngày, nhưng cũng có khi kéo dài nhiều tháng như ở ĐBSCL Mùa màng và sản xuất, cung cấp thực phẩm có thể bị lũ lụt phá hủy hoặc thất thu một phan, cây cỏ cho gia súc, thức an chăn nuôi có thé hoàn toàn mắt di, dẫn tới thiếu lương thực, thực phẩm lâu dai, ảnh hưởng tới tình hình chính tri, xã hội, an ninh lương thực trong vùng ngập cũng như cả quốc gia. Ngập lụt, Doin Minh Nghia TUẬN VAN THẠC SẼ ling thường gây thiệt hại lớn cho thương nghiệp, nông nghiệp mà phải trong thời gian dài sau đó mới có thể khôi phục được. Lũ lụt thưởng gây suy giảm nghiêm trọng môi trường sống, hủy hoại cảnh quan, điềo kiện sống vốn tổn tại bén vũng trước đó, có thể gây 6 nhĩ không chỉ môi trường nước, không khí, đắt mà nhiều khi tác động xấu tới cả. sinh quyên, phá hủy hệ sinh thái động thực vật vùng ngập.
mà phải mắt hang chục năm mới khôi phục lại được. Ngập lụt do vỡ dé ở Bắc BO "Đây là loại thiên tai nguy hiểm nhất, gây hậu quả nặng nỀ nhất. Trận lụt do vỡ đê tháng VIIL1913 ở ĐBBB khi lũ lớn gây vỡ đê. La tại Hà Nội là 11,35m đã vỡ dé sông Hồng ở tinh Vĩnh Phúc tại Nhật Chiên, Cam Viên và Hải Bồi, Yên Hoa thuộc Phúc Yên, de Phu Chu thuộc Thái Bình;sau ngày 14/VIIL, khi lã Hà Nội xuống mức 10,69m vẫn vỡ dé Lương Cổ, Nghĩa Lộ, Quang Thừa, Lỗ Xá tỉnh Hà Nam; dé Phương Độ , Sơn Tây.
Ngập lụt gần hết tinh Vĩnh Phúc, một phần Ha Tây, Nam Định, Ha Nam, Thái Bình và Bic Ninh. Tổng diện tích lúa bj ngập là 307.670 ha, trong đó mắt trắng 118. “Thiệt hại rất lớn về tài sản và nhà cửa, đường giao thông 1A, 2, 3, 10, 11A, 13A, 18; đường sắt Hà Nội — Hải Phòng. Trận lụt do vỡ đê liên tiếp 42 chỗ với tổng chiều dai 4180m (từ 11+20/VII khi mực nước Hà nội dao động từ 11,55 đến 11,64m) tháng VIII-1915 do lũ lớn, gây tổn thắt lớn.
Dinh lũ tại Hà Nội là 12,92m. Những nơi vỡ chính la: Xâm Duong, Xm Thị tỉnh Hà Đông; Lục Cảnh, Hoàng Xá, Trung Hà tỉnh Phúc Yên; Phi Liệt, Thủy Mao, Gia Quat, Gia Thượng, Phú Tong, Yên Viên, Đông Thụ, Danh Nam tinh Bắc Ninh; ME ‘Chan tỉnh Hưng Yên; và một số nơi khác trên sông Phó Day, Dudng và sông.Ngập lụt toàn bộ các tinh Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Bắc NInh, một phần tỉnh Vĩnh Phúc và vùng Bắc Hưng Hải ở phía Bắc đường quốc lộ 5. Quốc lộ 1A, 2, 3, 5, 6, ITA và các đường liên tỉnh đều bị ngưng trẻ. Diện ngập Doin Minh Nghia TUẬN VAN THẠC SẼ lên tới 325.000ha, mắt trắng 221000 ha lúa.