Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thực trạng ung thư hiện nay 1.1 Thực trạng ung thư và tử vong do ung thư trên thế giới Ung thư là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới, là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai, chỉ sau bệnh tim mạch. Trong năm 2018, có khoảng 18,1 triệu trường hợp ung thư được phát hiện mới và có đến 9,6 triệu ca tử vong liên quan đến ung thư. Trong đó, số lượng các ca tử vong do các dạng ung thư chủ yếu là: ung thư phổi (1,76 triệu ca), ung thư gan (781 nghìn ca), ung thư dạ dày (782 nghìn ca), ung thư vú (626 nghìn ca), ung thư đại tràng (551 nghìn ca). Số lượng các ca ung thư mới được dự đoán sẽ tăng khoảng 70 trong vòng 2 thập kỷ tới.
Hơn 60% số các ca ung thư mới hàng năm trên thế giới xảy ra ở Châu Phi, Châu Á, Trung và Nam Mỹ, chiếm 70% số các ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới. Đối với nam giới, 5 ung thư phổ biến nhất được chẩn đoán trong năm 2018 là ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày và ung thư gan. Đối với nữ giới, 5 ung thư phổ biến nhất được chẩn đoán là ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư cổ tử cung và ung thư dạ dày [6].2 Thực trạng ung thư và tử vong do ung thư ở Việt Nam Tại Việt Nam các bệnh ung thư phổ biến nhất ở nam giới là: ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư đại-trực tràng, ung thư thanh quản và ung thư tiền liệt tuyến. Ở nữ giới các bệnh ung thư phổ biến nhất là: ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại-trực tràng, ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư gan.
Trong năm 2018, số lượng các ung thư gặp phổ biến ở nam giới là: gan 19.722 ca, dạ dày 11.161 ca, đại-trực tràng 7.607 ca và vòm họng 4.559 ca; còn các ung thư gặp phổ biến ở nữ giới là: vú 15.767 ca, cổ tử cung 4.177 ca và dạ dày 6. Tổng số ca tử 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vong do ung thư năm 2018 là 114.871 ca, trong đó: số nam giới tử vong do ung thư là 70.888 ca, số nữ giới tử vong do ung thư là 43.983 ca: ung thư gan chiếm 22,1%, phổi 18,0%, dạ dày 13,1%, vú 5,3%, đại trực tràng 4,1% và các ung thư khác [88]. Nguyên nhân gây ung thư chủ yếu là do các yếu tố môi trường (90-95%), còn lại là do yếu tố di truyền (5-10%). Các yếu tố môi trường góp phần vào con số tử vong do ung thư gồm: thuốc lá (25-30%), chế độ ăn không hợp lý và béo phì (30-35%), nhiễm khuẩn (15-20%), bức xạ (cả ion hóa và không ion hóa, 10%), sự căng thẳng, thiếu hoạt động thể chất và các chất ô nhiễm môi trường [89].3 Các phương pháp sử dụng trong điều trị ung thư Ung thư là một bệnh lý ác tính, mục tiêu điều trị phụ thuộc vào giai đoạn phát hiện bệnh, lý tưởng nhất là phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và loại bỏ hoàn toàn tế bào ung thư.
Hiện nay, điều trị ung thư là đa mô thức, bao gồm các phương pháp: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, liệu pháp miễn dịch và cấy ghép tế bào gốc [89]. Phẫu thuật là biện pháp mà phương tiện thường được sử dụng là dao mổ. Để loại trừ tổ chức khối u, phẫu thuật viên phải cắt qua da, cơ hay thậm chí là xương, Sau phẫu thuật, vết mổ có thể gây đau đớn và phải mất thời gian để bình phục. Ngoài phẫu thuật bằng dao, hiện nay còn một số cách phẫu thuật giảm gây thương tổn hơn cho cơ thể bệnh nhân, như là: Phẫu thuật lạnh, sử dụng tia laser, sử dụng nhiệt và liệu pháp quang động.
Đầu tiên, phẫu thuật lạnh là phương pháp mà trong đó cực lạnh được tạo ra bởi nitơ lỏng hoặc khí argon được sử dụng để phá hủy các mô bất thường. Phương pháp này thường được sử dụng để điều trị ung thư da ở giai đoạn đầu. Thứ hai, sử dụng tia laser là phương pháp sử dụng các chùm ánh sáng mạnh để cắt xuyên qua mô. Laser có thể tập trung rất chính xác vào các khu vực nhỏ, vì vậy chúng có thể được sử dụng cho các ca phẫu thuật đòi hỏi độ chính xác cao.
Thứ ba, điều trị bằng nhiệt là phương pháp 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử dụng nhiệt độ cao tiếp xúc với các mô nhỏ của cơ thể. Nhiệt độ cao có thể làm tổn thương và tiêu diệt các tế bào ung thư hoặc làm cho chúng nhạy cảm hơn với bức xạ và một số loại thuốc hóa trị. Cuối cùng là liệu pháp quang động, một loại điều trị sử dụng các loại thuốc phản ứng với một loại ánh sáng nhất định. Khi khối u tiếp xúc với ánh sáng này, các loại thuốc này sẽ hoạt động và tiêu diệt các tế bào ung thư gần đó.
Liệu pháp quang động thường được sử dụng để sử dụng để điều trị hoặc làm giảm các triệu chứng của ung thư da, ung thư phổi [89]. Xạ trị là liệu pháp sử dụng tia xạ với mức năng lượng cao để tiêu diệt hoặc thu nhỏ khối u bằng cách gây tổn thương tới ADN của tế bào ung thư. Xạ trị không tiêu diệt tế bào ung thư ngay lập tức mà phải kéo dài nhiều ngày tới nhiều tuần để làm tổn thương ADN. Sau đó xạ trị kéo dài trong nhiều tuần tới nhiều tháng cho tới khi tế bào ung thư bị tiêu diệt [77, 89].
Hóa trị là liệu pháp dùng hóa chất để tiêu diệt hoặc làm chậm phát triển tế bào ung thư. Hóa trị có thể được sử dụng để chữa trị, làm giảm khả năng tái phát của ung thư hay thu nhỏ khối u [89]. Liệu pháp miễn dịch là liệu pháp giúp hệ miễn dịch chiến đấu chống lại ung thư. Có hai hướng đi chính của liệu pháp: một là giúp hệ miễn dịch tấn công trực tiếp tế bào ung thư và thứ hai là kích thích hệ miễn dịch một cách tổng thể.
Hướng đi thứ nhất có các dạng sau: (1) Thuốc ức chế điểm kiểm tra, là sử dụng những loại thuốc giúp hệ thống miễn dịch phản ứng mạnh hơn với khối u. Những loại thuốc này không nhắm trực tiếp vào khối u. Thay vào đó, chúng can thiệp vào khả năng tránh sự tấn công của hệ thống miễn dịch đối với tế bào ung thư. (2) Liệu pháp chuyển tế bào T, là liệu pháp điều trị giúp tăng cường khả năng chiến đấu của tế bào T với ung thư.
Trong liệu pháp này, các tế bào T được lấy từ khối u của người bệnh và chuyển vào các phòng thí nghiệm. Sau đó, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tế bào hoạt động tốt nhất chống lại bệnh ung thư được nuôi theo lô lớn và được chuyển lại vào cơ thể người bệnh. (3) Kháng thể đơn dòng, là sử dụng những protein của hệ thống miễn dịch được thiết kế để gắn vào các đích đặc hiệu trên tế bào ung thư. Hướng đi thứ 2 là sử dụng cytokine, là các protein được tạo ra bởi các tế bào cơ thể của người bệnh.
Hai loại cytokine chính được sử dụng để điều trị ung thư là interferon và interleukin [89]. Cấy ghép tế bào gốc là liệu pháp giúp phục hồi tế bào gốc tạo máu ở những người đã bị ảnh hưởng do tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị. Có 3 kiểu cấy ghép chính: thứ nhất là từ chính người bệnh, thứ hai là từ người khác và thứ ba là từ anh chị em sinh đôi [89].2 Điều trị ung thư bằng tia xạ 1.1 Cơ sở sinh học của xạ trị Xạ trị là liệu pháp chiếu xạ sử dụng tia xạ có năng lượng cao để tiêu hủy các mô ung thư và giết tế bào ung thư. Các loại tia X, tia gamma hay các hạt tích điện là những loại phổ biến được sử dụng trong điều trị ung thư.
Liệu pháp xạ trị sử dụng các chất phóng xạ di chuyển trong máu để giết các tế bào ung thư. Tia xạ giết tế bào ung thư bằng cách phá hủy ADN của chúng [89].2 Các mục tiêu của xạ trị Hiện nay, việc sử dụng tia xạ trong điều trị ung thư đang là một trong các biện pháp điều trị chính và được dùng phổ biến. Xạ trị sử dụng trong lâm sàng có thể chữa lành các bệnh ung thư bằng cách tiêu hủy các mô ung thư, ngăn cản sự tái phát của ung thư hay cả hai. Tuy nhiên, xạ trị cũng có thể chỉ có tác dụng tạm thời nhằm giảm đau đớn về thể xác và kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân ung thư mà không thể chữa khỏi, chẳng hạn như làm giảm khối u di căn trong não, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong tủy xương, khối u chèn ép cột sống, khối u vòm họng gây đau đớn và ngăn cản khả năng tư duy, ăn uống của bệnh nhân.
Một cách cụ thể hơn, có thể chia mục tiêu xạ trị ra thành 4 loại, bao gồm: (1) Xạ trị triệt căn: xạ trị đơn thuần hoặc kết hợp với các phương pháp điều trị khác, nhằm mục đích tiêu diệt hoàn toàn khối ung thư. Tất cả các kỹ thuật điều trị bằng tia xạ đều nhằm đạt được một liều lượng tối đa tại khối u và giảm thiểu liều chiếu ở các mô lành lân cận. (2) Xạ trị dự phòng: mục đích là để phòng ngừa tái phát hoặc di căn sau phẫu thuật, sau hoá trị. (3) Xạ trị hỗ trợ: với mục đích làm giảm thể tích khối u, nhằm biến ung thư ở giai đoạn không mổ được thành mổ được, hoặc hỗ trợ cho hoá trị đạt hiệu quả.3 Các loại tia xạ thường dùng trong xạ trị Tia X chính là loại tia được sử dụng nhiều nhất cho việc xạ trị cho tới nay.
hầu hết tia X có dải bước sóng trong khoảng từ 0,01 đến 10 nano mét tương ứng với dãy tần số từ 30 Petahertz đến 30 Exahertz (3x1016 Hz đến 3x1019 Hz) và có năng lượng từ 120 eV đến 120 keV. Bước sóng của nó ngắn hơn tia tử ngoại nhưng dài hơn tia gamma. Do có tính chất đâm xuyên tia X còn có ứng dụng lớn trong việc chẩn đoán hình ảnh sử dụng để chụp hình y tế. Kể từ khi được tìm ra vào cuối thế kỷ 19 tia X được sử dụng trong xạ trị ung thư khoảng 5 thập kỷ cho tới năm 1946 khi nhà khoa học Robert Wilson giới thiệu sử dụng hạt proton thay cho tia X trong việc điều trị ung thư.