Khóa luận đánh giá thực trạng kê khai thuế - Công ty Lam Sơn Q2 TPHCM

Khóa luận đánh giá thực trạng kê khai nộp thuế GTGT và TNDN tại Công ty TNHH Lam Sơn quận 2 TPHCM giai đoạn 2003-2004. Phân tích quy trình thuế doanh nghiệp.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Undergraduate thesis

2005

82
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách đánh giá tổng quan kê khai nộp thuế tại Công ty Lam Sơn

Công ty TNHH TM-VT-DV Lam Sơn, đặt trụ sở tại phường Bình Trưng Tây, quận 2, TP. Hồ Chí Minh, hoạt động trong lĩnh vực thương mại, vận tải và dịch vụ xây dựng. Trong bối cảnh hệ thống thuế Việt Nam ngày càng hiện đại hóa, việc kê khai thuế doanh nghiệpnộp thuế qua mạng trở thành yêu cầu bắt buộc với mọi tổ chức kinh doanh. Đánh giá thực trạng kê khai nộp thuế tại Công ty Lam Sơn trong giai đoạn 2003–2004 cho thấy doanh nghiệp đã tuân thủ các quy định pháp lý, tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế về hiệu quả quản lý và tối ưu hóa nghĩa vụ thuế. Theo báo cáo nghiên cứu từ Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM, công ty thực hiện báo cáo thuế hàng quý, sử dụng phần mềm kê khai thuế nội bộ và tuân thủ thời hạn nộp tờ khai thuế theo quy định của cơ quan thuế quản lý Công ty Lam Sơn – Chi cục Thuế quận 2. Dù vậy, việc chưa tận dụng cơ chế hoàn thuế GTGTtạm nộp thuế TNDN vượt mức cho thấy thiếu chiến lược tài chính dài hạn. Việc tra cứu nghĩa vụ thuếkiểm tra hồ sơ thuế định kỳ chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến tình trạng sai sót khi kê khai thuế tiềm ẩn và vốn bị “chôn” trong các khoản nộp thừa.

1.1. Tổng quan hoạt động kinh doanh và nghĩa vụ thuế

Công ty Lam Sơn kinh doanh đa ngành: vận tải hàng hóa, san lấp mặt bằng, mua bán vật liệu xây dựng và khai thác cát, đá. Các hoạt động này đều thuộc diện chịu thuế GTGTthuế TNDN. Mã số thuế doanh nghiệp của công ty là 0302227800. Trong hai năm 2003–2004, doanh thu tăng nhẹ (3,81%) nhưng chi phí tăng mạnh hơn (4,44%), làm giảm lợi nhuận và ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế TNCN tại Công ty Lam Sơn. Công ty thực hiện đầy đủ quy trình nộp thuế điện tửhồ sơ quyết toán thuế cuối năm, tuy nhiên chưa chủ động trong việc hoàn thuế hoặc điều chỉnh tạm nộp.

1.2. Cơ sở pháp lý và quy định áp dụng

Công ty tuân thủ Luật Thuế GTGT (02/1997/QH10) và Luật Thuế TNDN (sửa đổi năm 2003). Các quy định về thời hạn nộp tờ khai thuế, hướng dẫn kê khai thuế GTGT, và báo cáo thuế hàng quý được áp dụng nghiêm ngặt. Tuy nhiên, do thường xuyên thay đổi chính sách (ví dụ: thuế suất GTGT cho dịch vụ xây dựng thay đổi từ 5% lên 10% từ 2004), công ty gặp khó khăn trong cập nhật kịp thời, dẫn đến rủi ro sai sót khi kê khai thuế. Việc thiếu hỗ trợ từ dịch vụ kế toán thuế chuyên nghiệp cũng là nguyên nhân khiến hồ sơ chưa tối ưu.

II. Những thách thức khi kê khai thuế doanh nghiệp tại Công ty Lam Sơn

Mặc dù tuân thủ nghĩa vụ thuế, Công ty Lam Sơn đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình kê khai thuế doanh nghiệp. Một trong những vấn đề nổi bật là sai sót khi kê khai thuế, đặc biệt liên quan đến việc sử dụng hóa đơn GTGT và xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Trong năm 2003, có tới 20 hóa đơn bị tổn thất do ghi chép sai, dù không ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ thuế nhưng phản ánh quy trình nội bộ chưa chặt chẽ. Ngoài ra, thời hạn nộp tờ khai thuế thường bị dồn vào những ngày cuối cùng, gây áp lực cho bộ phận kế toán. Một thách thức lớn khác là việc tra cứu nghĩa vụ thuếkiểm tra hồ sơ thuế không được thực hiện định kỳ, dẫn đến tình trạng nộp thừa thuế GTGT và TNDN kéo dài qua nhiều kỳ. Theo báo cáo, đến cuối năm 2004, số thuế GTGT chưa khấu trừ lên tới hơn 27 triệu đồng, trong khi thuế TNDN tạm nộp thừa gần 12 triệu đồng. Điều này cho thấy thiếu chiến lược quản lý dòng tiền liên quan đến thuế. Đồng thời, sự thay đổi liên tục của cơ quan thuế quản lý Công ty Lam Sơn về biểu mẫu và quy trình cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp nhỏ.

2.1. Rủi ro từ sai sót trong hóa đơn và chứng từ

Công ty sử dụng hóa đơn GTGT mẫu 01-GTGT-3LL, nhưng việc lập và lưu trữ còn thiếu chuẩn hóa. Năm 2003 ghi nhận 20 hóa đơn tổn thất do lỗi thủ công. Mặc dù không vi phạm pháp luật, điều này làm giảm hiệu quả kiểm soát nội bộ và tăng rủi ro khi kiểm tra hồ sơ thuế. Việc không phân biệt rõ hóa đơn đầu vào hợp lệ cũng ảnh hưởng đến khả năng khấu trừ thuế GTGT.

2.2. Khó khăn do thay đổi chính sách thuế liên tục

Các nghị định, thông tư về thuế được sửa đổi thường xuyên (ví dụ: thuế suất GTGT cho dịch vụ xây dựng thay đổi năm 2004), khiến công ty khó cập nhật kịp. Đặc biệt, việc thay đổi mã số thuế doanh nghiệp từ 11/14 số xuống 10/13 số gây xung đột trong phần mềm kê khai thuế nội bộ, dẫn đến khả năng sai sót khi kê khai thuế hoặc kê khai không khớp với dữ liệu cơ quan thuế.

III. Phương pháp tối ưu quy trình kê khai thuế GTGT hiệu quả

Để cải thiện hiệu quả kê khai thuế GTGT, Công ty Lam Sơn cần áp dụng các phương pháp quản lý thuế chủ động và hệ thống hóa. Trước hết, doanh nghiệp nên tận dụng cơ chế hoàn thuế GTGT khi thuế GTGT đầu vào lớn hơn đầu ra – điều xảy ra liên tục trong giai đoạn 2003–2004. Thay vì để thuế GTGT chưa khấu trừ tích lũy, công ty nên nộp hồ sơ hoàn thuế định kỳ (theo quý hoặc năm) để giải phóng vốn. Thứ hai, việc sử dụng phần mềm kê khai thuế cần được nâng cấp để tương thích với các thay đổi của Tổng cục Thuế, đặc biệt về mã số thuế doanh nghiệp và biểu mẫu báo cáo thuế hàng quý. Thứ ba, quy trình kiểm tra hồ sơ thuế nội bộ nên được thực hiện hàng tháng, kết hợp với hướng dẫn kê khai thuế GTGT mới nhất từ cơ quan thuế. Cuối cùng, công ty cần đào tạo đội ngũ kế toán nắm vững quy trình nộp thuế điện tử và cách xử lý hóa đơn GTGT đúng chuẩn, giảm thiểu sai sót khi kê khai thuế.

3.1. Tận dụng cơ chế hoàn thuế GTGT định kỳ

Theo quy định, nếu thuế GTGT đầu vào vượt đầu ra liên tục trong 3 tháng, doanh nghiệp có quyền xin hoàn thuế. Công ty Lam Sơn nên chủ động làm hồ sơ quyết toán thuế và nộp đề nghị hoàn thuế thay vì để số dư chuyển kỳ, giúp giải phóng nguồn vốn lưu động đáng kể.

3.2. Nâng cấp phần mềm và đào tạo kế toán

Phần mềm kế toán nội bộ cần được cập nhật theo các thay đổi của Tổng cục Thuế, đặc biệt về định dạng mã số thuế doanh nghiệp và biểu mẫu báo cáo thuế hàng quý. Đồng thời, nhân viên kế toán nên được đào tạo thường xuyên về hướng dẫn kê khai thuế GTGTquy trình nộp thuế điện tử để đảm bảo tính chính xác.

IV. Bí quyết quản lý thuế TNDN và thuế TNCN tại Công ty Lam Sơn

Thuế TNDN tại Công ty Lam Sơnthuế TNCN (liên quan đến chi trả thu nhập cho cá nhân) là hai nghĩa vụ quan trọng. Trong giai đoạn 2003–2004, công ty tạm nộp thuế TNDN vượt mức thực tế gần 30 triệu đồng mỗi năm, cho thấy việc dự báo lợi nhuận chưa chính xác. Để khắc phục, công ty nên áp dụng bí quyết điều chỉnh mức tạm nộp theo sát kết quả kinh doanh thực tế, đặc biệt khi doanh thuchi phí biến động lớn. Ngoài ra, cần rà soát kỹ các khoản chi phí hợp lý để tối ưu thu nhập chịu thuế, như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí thuê ngoài và chi phí nhiên liệu. Đối với thuế TNCN, dù không phát sinh nhiều do lao động chủ yếu là nam giới làm việc theo hợp đồng lao động, công ty vẫn cần đảm bảo kê khai thuế doanh nghiệp đầy đủ khi chi trả thu nhập. Việc kết hợp dịch vụ kế toán thuế chuyên nghiệp sẽ giúp công ty kiểm tra hồ sơ thuế định kỳ, tránh sai sót khi kê khai thuế và tối ưu nghĩa vụ thuế.

4.1. Điều chỉnh mức tạm nộp thuế TNDN sát thực tế

Thay vì kê khai mức tạm nộp cao ngay từ quý I, công ty nên chia nhỏ theo tiến độ kinh doanh, đặc biệt khi không có công trình lớn như năm 2004. Cuối năm, nếu tạm nộp thừa, cần làm hồ sơ xin hoàn thuế thay vì chuyển kỳ, giúp giải phóng vốn.

4.2. Tối ưu thu nhập chịu thuế qua chi phí hợp lý

Công ty cần rà soát kỹ các chi phí hợp lý như khấu hao TSCĐ, chi phí thuê xe, chi phí sửa chữa để đảm bảo được trừ khi tính thu nhập chịu thuế. Điều này đặc biệt quan trọng khi lợi nhuận sau thuế giảm mạnh như năm 2004.

V. Ứng dụng thực tiễn Kết quả nghiên cứu kê khai thuế 2003 2004

Kết quả nghiên cứu thực tế tại Công ty Lam Sơn trong hai năm 2003–2004 cho thấy nhiều bài học giá trị. Về thuế GTGT, công ty liên tục có thuế GTGT đầu vào lớn hơn đầu ra do đầu tư TSCĐ và chênh lệch thuế suất (đầu vào 10%, đầu ra 5% năm 2003), dẫn đến thuế GTGT chưa khấu trừ tích lũy. Về thuế TNDN, dù lợi nhuận sau thuế năm 2004 giảm 70,68% so với 2003, công ty vẫn tạm nộp thừa thuế, cho thấy thiếu dự báo tài chính. Tuy nhiên, điểm tích cực là công ty luôn nộp thuế qua mạng đúng thời hạn nộp tờ khai thuế, hồ sơ quyết toán thuế đầy đủ và tra cứu nghĩa vụ thuế khi cần. Đặc biệt, phần mềm kê khai thuế nội bộ giúp tự động hóa nhiều khâu, giảm thiểu sai sót khi kê khai thuế. Những kết quả này là cơ sở để đề xuất cải tiến quy trình quản lý thuế trong tương lai.

5.1. Phân tích số liệu thuế GTGT và TNDN

Năm 2003: thuế GTGT đầu ra 709.000đ, đầu vào 721.000đ → nộp thừa 12.000đ. Năm 2004: thuế TNDN phải nộp chỉ 8.915đ nhưng tạm nộp 38.045đ → dư 29.130đ. Số liệu cho thấy công ty chưa tối ưu dòng tiền thuế.

5.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng phần mềm và hồ sơ

Phần mềm kế toán giúp in báo cáo thuế hàng quýhồ sơ quyết toán thuế tự động, nhưng chưa tích hợp cập nhật chính sách thuế mới. Hồ sơ được lưu trữ gọn gàng theo năm, thuận tiện cho kiểm tra hồ sơ thuế bởi cơ quan thuế quản lý Công ty Lam Sơn.

VI. Tương lai của kê khai nộp thuế tại Công ty Lam Sơn Định hướng cải tiến

Trong bối cảnh nộp thuế qua mạngquy trình nộp thuế điện tử ngày càng được đẩy mạnh, Công ty Lam Sơn cần có chiến lược dài hạn để nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Trước mắt, công ty nên hợp tác với dịch vụ kế toán thuế chuyên nghiệp để rà soát hồ sơ quyết toán thuế, tối ưu thu nhập chịu thuếxin hoàn thuế kịp thời. Đồng thời, cần nâng cấp phần mềm kê khai thuế để tự động cập nhật thay đổi từ Tổng cục Thuế, đặc biệt về mã số thuế doanh nghiệp và biểu mẫu. Về lâu dài, công ty nên xây dựng quy trình kiểm tra hồ sơ thuế định kỳ hàng quý, kết hợp tra cứu nghĩa vụ thuế trên cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế. Việc này không chỉ giảm sai sót khi kê khai thuế mà còn giúp doanh nghiệp chủ động trong dòng tiền, tránh “chôn vốn” trong các khoản nộp thừa. Cuối cùng, lãnh đạo công ty cần nâng cao nhận thức rằng kê khai thuế doanh nghiệp không chỉ là nghĩa vụ mà còn là công cụ quản trị tài chính hiệu quả.

6.1. Hợp tác với dịch vụ kế toán thuế chuyên nghiệp

Việc thuê dịch vụ kế toán thuế bên ngoài sẽ giúp công ty cập nhật chính sách mới, tối ưu chi phí hợp lý, và chuẩn bị hồ sơ quyết toán thuế chính xác, giảm rủi ro khi kiểm tra hồ sơ thuế.

6.2. Xây dựng quy trình kiểm tra thuế nội bộ định kỳ

Công ty nên thực hiện kiểm tra hồ sơ thuế hàng quý, đối chiếu thuế GTGT đầu vào/đầu ra, rà soát thời hạn nộp tờ khai thuế, và tra cứu nghĩa vụ thuế trên hệ thống điện tử để đảm bảo tuân thủ và hiệu quả tài chính.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chon dé tài nghiên cứu Chúng ta biết rằng, thuế là nguôn thu rất quan trọng, nó chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu ngân sách Nhà nước ( khoản 70%-80%). Ngày nay với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế khu vực là một vấn dé bức thiết mang tính tất yếu khách quan đối với tất cả các quốc gia. Vì vậy, vai trò của thuế ngày nay không chỉ dừng ở chỗ đảm bảo nguồn thu để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, mà nó phải dam bảo vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế quốc gia ngày càng phát triển. Vì vậy chính sách thuế đã được cải cách, sửa đổi cho phù hợp với xu hướng này.

Nhằm khuyến khích các cơ sở kinh doanh mở rộng sản xuất. Bộ tài chính đã ban hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho Luật thuế doanh thu và thuế lợi tức nhằm khắc phục những nhược điểm của hai Luật thuế này. Những chính sách nhằm khuyến khích các cơ sở mạnh dạn đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế: + Thuế thu nhập doanh nghiệp: Doanh nghiệp được miễn giảm thuế trong những năm đầu mới thành lập, trong thời gian đầu của các doanh nghiệp khi đầu tư thêm máy móc, trang thiết bị, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái. Khi hoạt động bị lỗ sẻ được chuyển lỗ sang năm tiếp theo.

+ Thuế giá trị gia tăng: đánh vào giá trị tăng thêm trong từng khâu của quá trình sản xuất nên không bị đánh thuế trùng lặp, thúc đẩy được sự chuyên môn hoá trong sản xuất. Được hoàn thuế giá trị gia tăng trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, dau tư tài sản cố định có giá trị lớn. đã khuyến khích được xuất khẩu phát triển, góp phần khuyến khích mạnh mẽ đâu tư, thúc đẩy nên kinh tế phát triển nhanh với hiệu quả ngày càng cao. Nguồn thuế thu được là đặc biệt quan trọng cho ngân sách Nhà nước.

Tuy nhiên, cần có sự hỗ trợ đóng góp tích cực của các tổ chức, cá nhân thì nguồn ngân sách này mới được bảo đảm. Chính vì vậy nghiên cứu quá trình kê khai và nộp thuế tại một đơn vị cụ thể là điều cần thiết, đó là lý do tôi chọn để tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng kê khai và nộp thuế của công ty TNHH TM-VT-DV Lam Sơn, phường Bình Trung Tây, quận 2, TP. Hồ Chí Minh”.2 Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu 1.1 Mục đích nghiên cứu Để có thêm hiểu biết đối với hệ thống thuế và cách thức kê khai và nộp thuế đối với các cơ sở kinh doanh. Đánh giá thực trạng kê khai và nộp thuế tại công ty TNHH TM-VT-DV Lam Sơn.

Tìm ra những tôn tại của ưu khuyết điểm trong công tác kê khai và nộp thuế. Đưa ra một số ý kiến để xuất nhằm nâng cao công tác kê khai và nộp thuế tại công ty.2 Phạm vi nghiên cứu Sau khi xác định để tài, cân nhắc thời gian và trình độ cho phép, tôi giới hạn phạm vi sau: - Về không gian: Tại công ty TNHH TM-VT-DV Lam Sơn, phường Bình Trưng Tây, quận 2, TP. Hồ Chí Minh. - Về thời gian : Tiến hành nghiên cứu tình hình kê khai và nộp thuế của công ty qua 2 năm 2003-2004.3 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện để tài này, đầu tiên tôi tiến hành thu thập số liệu ở các phòng ban, trực tiếp ra công trình và tham khảo các tài liệu có liên quan.

Phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhận định sự việc theo sự vận động của nó. Phân tích dựa vào các phương pháp so sánh, số tương đối, số tuyệt đối, thống kê.3 Nội dung nghiên cứu Dựa vào tình hình thực tế của công ty TNHH TM-VT-DV Lam Sơn tôi tiến hành phân tích các nội dung sau: - Phân tích tình hình kê khai và nộp thuế GTGT qua 2 năm 2003-2004 - Phân tích tình hình kê khai và nộp thuế TNDN qua 2 năm 2003-2004 - Phân tích các khoản thuế phải nộp khác qua 2 năm 2003-2004 - Phân tích kết quả kinh doanh qua 2 năm 2003-2004 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về thuế Sau công xã nguyên thuỷ, xã nội loài người đã trải qua các chế độ xã hội có giai cấp, trong mỗi xã hội đó đều hình thành và tổn tại bộ máy Nhà nước, là tổ chức đại diện cho lợi ích của giai cấp thống trị để cai trị xã hội. Cơ sở vật chất để bộ máy Nhà nước tổn tại là ngân sách Nhà nước, đó là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, hình thành từ nhiều nguồn lực tài chính khác nhau, trong đó nguôn thu chủ yếu là từ Thuế. Như vậy sự ra đời, tổn tại và phát triển của Thuế gắn lién với sự ra đời, tổn tại và phát triển của Nhà nước.

Nhà nước bằng quyền lực của mình quy định các khoản đóng góp bắt buộc với dân chúng và các chủ thể khác trong xã hội. Các khoản đóng góp có thể thực hiện bằng nhiều hình thức như: ngày công lao động, hiện vật, bằng tiền. Trong nền kinh tế thị trường chủ yếu được thực hiện bằng tiền. Thuế là một phạm trù kinh tế, đồng thời là một phạm trù lịch sử.

Nó ra đời, ton tại và phát triển cùng với Nhà nước, gắn liền với mục tiêu, chức năng của Nhà nước. Thuế là một công cụ quan trọng mà Nhà nước nào cũng sử dụng để thực hiện chức năng của mình. Thuế mang bản chất giai cấp của Nhà nước. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, là người đại diện cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, vì vậy Thuế của nhà nước ta ngoài việc trang trải cho bộ máy Nhà nước do nhân dân lập ra, còn nhằm phục vụ trở lại cho nhân dân thông qua các phúc lợi công cộng, bảo dam an ninh quốc phòng, an sinh.Taylor: ”Thuế là sự đóng góp cưỡng bách của mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí và quyền lợi chung, mà ít căn cứ vào các lợi ích riêng được hưởng”.

+ Giáo sư Nghiêm Đăng thì cho rằng: ”Thuế là một sự cung cấp tiền tài trực tiếp, đòi hỏi ở các công dân bằng phương pháp quyền lực, để tài trợ các gánh nặng công cộng, sự cung cấp này có tính chất chung cục và không có đối z9 gid”. + Theo tính chất kinh tế: “Thuế là một hình thức phân phối san phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và người dân sáng tạo ra, hình thành nên quỹ tién tê tập trung để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước”. + Theo tính chất pháp lý: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân được Nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng Nhà nước”. Các quan niệm trên tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng đều thống nhất những nội dung chính của Thuế đó là: + Thuế là một biện pháp động viên của Nhà nước mang tính chất bắt buộc đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước.

+ Thuế là một khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong xã hội phải nộp vào NSNN. + Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công, nhằm trang trải những chi phí nuôi bộ máy Nhà nước và trang trải các chi phi công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng. + Thuế là một hình thức phân phối thu nhập, được Nhà nước sử dụng để động viên phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào NSNN. Từ những nhận thức trên đây, chúng ta có thể đi đến khái niệm về Thuế như sau: 12 “Thuế là một khoản đóng góp của các cá nhân và tổ chức trong xã hội cho Nhà nước.

Khoản đóng góp này mang tính chất bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp, được Pháp luật quy định và được sử dụng theo chức năng của Nhà nước”.2 Các đặc điểm của Thuế Nhà nước 2.1 Thuế là một khoản động viên bắt buộc gắn liên với quyên lực chính trị của Nhà nước Tính bắt buộc của Thuế là tất yếu khách quan. Bởi vì con người sẽ không tự nguyện nộp phần thu nhập của mình đóng góp cho lợi ích chung của xã hội. Trong xã hội bao giờ cũng có những người tự giác, nhưng lại có nhiều người chỉ thích ăn không họ sẽ không bao giờ tự giác trích một phần thu nhập để nộp cho Nhà nước. Điều này kéo theo tất cả mọi người sẽ không chịu tự giác đóng góp nữa.

Vì vậy, tính bắt buộc của Thuế phải được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia. Bằng quyền lực chính trị của mình, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước đã ấn định và ban hành các Luật thuế, bắt buộc tất cả mọi người phải thưc hiện và không có quyển từ chối.2 Thuế Nhà nước là một hình thức động viên mang tính chất không hoàn trả trực tiếp Nộp Thuế cho Nhà nước là nghĩa vụ của mọi công dân, Thuế không phải là một khoản đối giá và càng không phải là một khoản vay mượn. Các thể nhân, pháp nhân không có quyển đòi hỏi Nhà nước phai cung cấp cho ho một lượng vật chất tương ứng với mức Thuế mà họ đã nộp. Ta biết rằng các khoản động viên vào NSNN, ngoài thuế ra còn có các khoản mang tính chất Thuế như: phí và lệ phí.

Khác với thuế, phí là khoản động 13 viên vào NSNN dùng để chi trở lại cho mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng đã định sẵn, lệ phí là khoản thu gắn liền với sự phục vụ trở lại của Nha nước tương ứng với khoản người dân phải nộp.3 Thuế Nhà nước thuộc phạm trù phân phối chứa đựng các yếu tố kinh tế-xã hội Nguồn thu của Thuế là kết quả của quá trình kinh tế. Thuế Nhà nước luôn tác động đến lợi ích của các pháp nhân, thể nhân tổn tai và tham gia vào hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội.4 Trong nên kinh tế thị trường hình thức thu thuế bằng tiên là phổ biến Trong lịch sử đã tổn tại nhiều hình thức thu thuế như: thu bằng ngày công lao động, thu bằng hiện vật và tiền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ