Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hải miên (ngành Porifera) là nhóm động vật không xương sống cổ xưa sống bám và ăn lọc, phân bố rộng khắp các vùng biển trên thế giới. Do phải cạnh tranh sinh tồn trong môi trường biển khắc nghiệt và liên tục lọc qua cơ thể một lượng lớn nước biển, hải miên trở thành vật chủ lý tưởng chứa đựng các cộng đồng vi sinh vật cộng sinh và liên kết phong phú, bao gồm vi khuẩn, vi nấm và xạ khuẩn. Các nghiên cứu hóa sinh hiện đại đã chỉ ra rằng phần lớn các hợp chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học cao (như polyketides, nonribosomal peptides, alkaloids, terpenoids, steroids) từng được phân lập từ mô hải miên thực chất do các vi sinh vật liên kết tổng hợp nên.

So với việc khai thác một khối lượng lớn sinh khối hải miên tự nhiên – vốn gây tổn hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển và tốn kém chi phí – việc phân lập và nuôi cấy các vi sinh vật liên kết mở ra hướng tiếp cận bền vững, hiệu quả nhằm thu nhận các hoạt chất tự nhiên có tiềm năng ứng dụng trong dược phẩm và công nghệ sinh học. Trong khi vi khuẩn và xạ khuẩn biển đã được khảo sát tương đối nhiều, vi nấm liên kết với hải miên tồn tại với mật độ thấp hơn nhưng lại sở hữu nguồn gen sinh tổng hợp phong phú và độc đáo.

Tại Việt Nam, vùng biển nhiệt đới với đường bờ biển dài và nhiều đảo tạo nên hệ sinh thái sinh vật biển phong phú. Tuy nhiên, các dẫn liệu khoa học về sự đa dạng và tiềm năng sinh học của vi nấm liên kết trên hải miên tại khu vực vịnh Bắc Bộ vẫn còn rất hạn chế. Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này thông qua các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá sự đa dạng hình thái và lựa chọn các chủng vi nấm liên kết với hải miên tại vùng biển Bắc Bộ Việt Nam có khả năng sinh tổng hợp hoạt chất kháng sinh đối kháng với vi sinh vật kiểm định.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Thu thập các mẫu hải miên tại vùng biển Hải Phòng, tiến hành phân lập và làm thuần các chủng vi nấm liên kết (bao gồm cả dạng nội sinh và ngoại sinh).
    2. Phân loại sơ bộ các chủng vi nấm dựa trên đặc điểm hình thái học đại thể và vi thể dưới kính hiển vi quang học.
    3. Sàng lọc hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định qua phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch và phương pháp đục lỗ thạch từ dịch lên men.
    4. Lên men môi trường rắn (RYE) đối với các chủng nấm tuyển chọn, ngâm chiết bằng ethyl acetate và đánh giá nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên phiến vi lượng 96 giếng đối với 8 chủng vi sinh vật kiểm định chuẩn.
    5. Khảo sát sơ bộ các điều kiện lên men rắn (thời gian lên men, nồng độ muối, pH môi trường) ảnh hưởng đến khả năng sinh tổng hợp hoạt chất kháng sinh của các chủng nấm tuyển chọn.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng: Các chủng vi nấm phân lập từ 07 mẫu hải miên (ký hiệu: HM01, BLVHM02, MXSHM, HM01HG, SHMO5, RB02IS2, SHCO13) thu thập tại vùng vịnh Hải Phòng, Việt Nam.
    • Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại Phòng Sinh học Thực nghiệm, Viện Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) phối hợp với Khoa Công nghệ Sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết và tiêu chuẩn phân loại

Nghiên cứu ứng dụng các nguyên lý vi sinh vật học biển và phân loại học vi nấm truyền thống. Đặc điểm hình thái khuẩn lạc và cấu trúc vi học của các chủng nấm được định loại và đối chiếu theo các tài liệu chuyên khảo quốc tế:

  • Khóa phân loại chi Penicillium và Aspergillus của Raper & Thom (1949).
  • Hệ thống phân loại nấm sợi và nấm biển của Stolk & Samson (1972), Samson và cộng sự (2011), Crous & Groenewald (2015).
  • Đánh giá hoạt tính kháng sinh in vitro và xác định giá trị MIC trên phiến vi lượng 96 giếng dựa trên quy trình chuẩn của Vander Bergher và Vlietlinck (1991).

Hệ sinh phẩm, hóa chất và môi trường nuôi cấy

Thực nghiệm sử dụng hệ thống 8 chủng vi sinh vật kiểm định (VSVKĐ) lưu giữ tại Phòng Sinh học Thực nghiệm, Viện Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên:

  • Vi khuẩn Gram dương: Bacillus subtilis ATCC 27212, Staphylococcus aureus ATCC 12222.
  • Vi khuẩn Gram âm: Escherichia coli ATCC 25922, Pseudomonas aeruginosa ATCC 25923.
  • Nấm men: Saccharomyces cerevisiae ATCC 7754, Candida albicans SH 20.
  • Nấm mốc: Aspergillus niger 439, Fusarium oxysporum M24.

Các chất đối chứng dương sử dụng trong thử nghiệm kháng sinh gồm: Ampicillin (nồng độ 50 mM, đặc hiệu vi khuẩn Gram dương), Tetracyclin (nồng độ 10 mM, đặc hiệu vi khuẩn Gram âm) và Nystatin B (đặc hiệu nấm men, nấm mốc) được pha trong DMSO 100%. Đối chứng âm là dịch môi trường nuôi cấy không bổ sung hoạt chất kháng sinh.

Các môi trường nuôi cấy được chuẩn bị theo công thức chuẩn:

  • Môi trường nấm biển thạch và dịch thể: Pepton 10 g/l, Glucose 20 g/l, NaCl 30 g/l, Kis-penicillin 30 g/l, Agar 18–20 g/l (đối với môi trường thạch).
  • Môi trường nuôi cấy và kiểm định: Môi trường Hansen thạch/dịch thể (Glucose 50 g, Pepton 10 g, KH2PO4 3 g, MgSO4), Môi trường Nutrient Agar (NA - 014: Pepton 5 g, cao thịt 2 g, NaCl 1 g, Agar 18 g, pH 7), Môi trường Czapeck-Dox (Saccharose 30 g, NaNO3 3 g, K2HPO4 1 g, MgSO4).
  • Môi trường lên men rắn (RYE): Chuẩn bị trong bình Erlenmeyer dung tích 1000 ml chứa 50 g gạo, 0,05 g cao nấm men, 0,02 g KH2PO4 và 50 ml nước biển (30 g/l NaCl).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Quy trình thực nghiệm được triển khai tuần tự qua các bước:

  1. Lấy mẫu và xử lý mẫu hải miên: Mẫu hải miên cắt đoạn 5–10 cm được vô trùng bề mặt bằng nước muối sinh lý 0,9% và cồn 70° (lắc trong 1–3 phút).
  2. Phân lập vi nấm: Phân lập ngoại sinh bằng cách cấy trực tiếp 5 mẩu mô hải miên lên đĩa thạch nấm biển. Phân lập nội sinh bằng cách nghiền nát mô mẫu trong nước muối 0,9%, pha loãng theo các nồng độ $10^{-1}$, $10^{-2}$, $10^{-3}$, trải 150 µl dịch huyền phù lên đĩa thạch và ủ ở nhiệt độ 28°C trong 4 ngày.
  3. Sàng lọc hoạt tính kháng khuẩn:
    • Sàng lọc sơ bộ: Cấy chuyển sợi nấm thuần lên đĩa thạch đã trải sẵn 150 µl dịch VSVKĐ, ủ lạnh 1 giờ để khuếch tán rồi ủ ấm 24 giờ.
    • Sàng lọc thứ cấp: Nuôi lắc các chủng có hoạt tính trong môi trường nấm biển dịch thể 7 ngày, dùng khoan nút chai đục lỗ đường kính 1 cm trên thạch kiểm định, nhỏ dịch lên men và đo đường kính vòng kháng khuẩn sau 24 giờ ủ ấm ở 30°C.
  4. Lên men rắn và thu hồi cao chiết: Nuôi cấy vi nấm tuyển chọn trên môi trường RYE trong 28 ngày ở nhiệt độ phòng. Ngâm chiết sinh khối và cơ chất bằng dung môi ethyl acetate (200 ml/bình 500 ml) trong 48 giờ (lặp lại 3 lần), sau đó cô quay chân không ở 40°C để thu hồi cặn chiết thô.
  5. Xác định giá trị MIC trên phiến 96 giếng: Hòa tan cặn chiết trong DMSO, pha loãng theo dãy nồng độ giảm dần (200, 100, 50, 25, 12,5 µg/ml). Trộn 10 µl dịch mẫu với 190 µl dịch nuôi cấy VSVKĐ trong từng giếng, ủ ấm 1–2 ngày và xác định nồng độ thấp nhất làm giếng trong suốt hoàn toàn.
  6. Khảo sát điều kiện lên men: Khảo sát các dải thông số gồm thời gian lên men (12–28 ngày), nồng độ muối biển bổ sung (10, 20, 25, 30, 33, 37, 40, 42 g/l) và pH môi trường (4, 5, 6, 7, 8, 9).

Nội dung chính theo từng chương

LỜI MỞ ĐẦU và TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương tổng quan tập trung hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu về sự đa dạng của vi sinh vật biển và vai trò của hải miên như một nguồn cung cấp các chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học. Tác giả phân tích cấu tạo giải phẫu, các kiểu cấu trúc cơ thể của hải miên (ascon, sycon, leucon, ragon) và cơ chế ăn lọc tạo điều kiện cho các vi sinh vật cư trú nội bào và ngoại bào. Phần tổng quan cũng điểm lại các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về các hợp chất tự nhiên tách chiết từ hải miên (như các dẫn xuất steroid, sesquiterpene, triterpene isomalabaricane, alkaloid bisquinolizidine) có hoạt tính gây độc tế bào ung thư và ức chế vi sinh vật gây bệnh. Qua đó, tác giả khẳng định việc nghiên cứu vi nấm liên kết trên hải miên là hướng tiếp cận cần thiết do tính chất sinh trưởng nhanh, khả năng nuôi cấy nhân tạo và tiềm năng sinh tổng hợp các hợp chất mới.

CHƯƠNG II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này mô tả chi tiết nguồn gốc 07 mẫu hải miên thu thập tại vùng biển Hải Phòng, danh mục 8 chủng vi sinh vật kiểm định chuẩn, các trang thiết bị phân tích (kính hiển vi Axio Olympus, tủ cấy vô trùng, máy đo mật độ quang Infinite F50 Tecan, máy cô quay chân không) và nguồn gốc các hóa chất đạt chuẩn tinh khiết. Toàn bộ quy trình phân lập ngoại sinh, nội sinh, tinh sạch giống, phương pháp đánh giá hoạt tính kháng khuẩn định tính qua vòng khuếch tán thạch, phương pháp định lượng MIC trên phiến vi lượng 96 giếng và các bước bố trí thí nghiệm khảo sát điều kiện lên men rắn RYE đều được trình bày rõ ràng, chuẩn hóa theo các tài liệu tham khảo chuyên ngành.

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Chương III trình bày toàn bộ các số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình nghiên cứu:

  1. Kết quả phân lập và đánh giá đa dạng hình thái: Từ 07 mẫu hải miên nuôi cấy trên môi trường nấm biển thạch ở 28°C trong 4 ngày, đã phân lập được 54 chủng vi nấm thuần. Sự đa dạng về hình thái biểu hiện qua 7 nhóm màu sắc khuẩn lạc và 5 dạng cấu trúc hệ sợi:
    • Phân bố màu sắc khuẩn lạc: Màu xanh chiếm ưu thế với 20 chủng (37,0%), màu trắng có 19 chủng (35,2%), màu vàng có 6 chủng (11,1%), màu hồng có 3 chủng (5,5%), màu cam có 3 chủng (5,5%), màu nâu có 2 chủng (3,7%) và màu đen có 1 chủng (1,85%).
    • Phân bố đặc điểm hệ sợi: Dạng bông sợi chiếm tỷ lệ cao nhất với 34 chủng (63,0%), dạng sợi thưa có 10 chủng (18,5%), dạng nhăn có 4 chủng (7,4%), dạng trơn có 3 chủng (5,5%) và dạng hạt có 3 chủng (5,5%).
STT Đặc điểm hệ sợi Số lượng chủng Tỷ lệ (%)
1 Bông sợi 34 63,0%
2 Sợi thưa 10 18,5%
3 Nhăn 4 7,4%
4 Trơn 3 5,5%
5 Hạt 3 5,5%
Tổng 5 dạng cấu trúc 54 100%
  1. Kết quả sàng lọc hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định:
    • Sàng lọc sơ bộ trên thạch: Trong 54 chủng phân lập, có 22 chủng (40,7%) thể hiện hoạt tính kháng ít nhất một chủng VSVKĐ; 32 chủng (59,3%) không thể hiện hoạt tính; 12 chủng (22,2%) kháng được 1–3 chủng VSVKĐ và 10 chủng (18,5%) kháng được 4–5 chủng VSVKĐ. Về phổ kháng: 20/22 chủng có hoạt tính kháng vi khuẩn Gram âm (90,9%), 19/22 chủng kháng vi khuẩn Gram dương (86,4%), 12/22 chủng kháng nấm men (54,5%) và 0/22 chủng có khả năng ức chế nấm mốc.
    • Sàng lọc thứ cấp (lên men dịch thể 7 ngày, phương pháp đục lỗ thạch): Thử nghiệm lại 22 chủng có hoạt tính cho thấy 17 chủng (77,3%) mất hoạt tính, 3 chủng (13,6%) kháng 1–3 loài và 2 chủng (9,1%) kháng được 4–5 loài VSVKĐ. Hai chủng có hoạt tính mạnh nhất được ký hiệu là NH1 và NH2 (ức chế 5/8 chủng VSVKĐ, đạt tỷ lệ 62,5%).
Chủng vi nấm B. subtilis S. aureus E. coli P. aeruginosa S. cerevisiae C. albicans A. niger F. oxysporum Tỷ lệ ức chế
NH1 + + ++ - ++ - ++ - 5/8 (62,5%)
NH2 ++ ++ ++ - ++ - + - 5/8 (62,5%)

Ghi chú: (-) không có hoạt tính; (+) vòng kháng khuẩn < 1 cm; (++) vòng kháng khuẩn 1–2 cm.

  1. Đặc điểm hình thái học của hai chủng nấm tuyển chọn:

    • Chủng NH1: Khuẩn lạc sinh trưởng chậm trên môi trường nấm biển (đạt đường kính 2,5–3,0 cm sau 7 ngày ở 28°C). Bào tử đính dạng hình kim mọc từ 1 đến 3 bào tử; bào tử nhẵn, hình elip với kích thước 23 × 1,5–2,5 µm; cuống sinh bào tử có thành dày; sợi nấm có vách ngăn rõ rệt. Dựa trên đặc điểm vi học, chủng NH1 được dự báo sơ bộ thuộc chi Talaromyces sp.
    • Chủng NH2: Khuẩn lạc sinh trưởng nhanh (đạt đường kính 4 cm sau 4 ngày ở 28°C), hệ sợi tròn dày bông xốp màu trắng sữa nhạt dần ra mép, mép viền liền, không có giọt tiết bề mặt, tiết sắc tố hòa tan màu nâu vào môi trường. Cuống sinh bào tử dạng ống mọc trực tiếp từ sợi nấm, thành mịn thon ở đỉnh (kích thước 12–20 × 1,5–2,0 µm); sợi nấm phân nhánh; túi sinh bào tử hình bầu dục kích thước 3–3,5 × 2–3 µm. Chủng NH2 được dự báo sơ bộ thuộc chi Aspergillus sp.
  2. Hoạt tính kháng sinh của cặn chiết Ethyl acetate (giá trị MIC): Cặn chiết thô từ sinh khối lên men rắn RYE của cả 2 chủng đều thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh với giá trị MIC dao động từ 50 đến 100 µg/ml đối với 5 chủng kiểm định, không ức chế được P. aeruginosa, C. albicans và F. oxysporum.

STT Ký hiệu mẫu Nồng độ ban đầu (µg/ml) E. coli P. aeruginosa B. subtilis S. aureus S. cerevisiae C. albicans F. oxysporum A. niger
1 NH1 200 50 (-) 50 100 50 (-) (-) 50
2 NH2 200 50 (-) 50 50 100 (-) (-) 50

Ghi chú: (-) không biểu hiện hoạt tính ức chế ở dải nồng độ thử nghiệm.

  1. Kết quả khảo sát điều kiện lên men rắn RYE:
    • Thời gian lên men: Quá trình sinh tổng hợp chất chuyển hóa thứ cấp và tích lũy hàm lượng cao chiết tăng dần theo thời gian nuôi cấy, đạt mức tối ưu ở giai đoạn cân bằng từ 18 đến 28 ngày.
    • Nồng độ muối và pH: Hoạt tính kháng sinh của chủng nấm duy trì ổn định trong dải độ mặn nước biển (tối ưu quanh mức 30–33 g/l NaCl) và dải pH trung tính đến kiềm nhẹ (pH 6–8), phản ánh tính thích nghi sinh lý đối với môi trường sống tự nhiên trong mô hải miên biển.

CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Chương kết luận tổng kết lại các chỉ số đạt được về số lượng chủng phân lập, mức độ đa dạng màu sắc và hệ sợi, lựa chọn được 2 chủng ưu việt NH1 (Talaromyces sp.) và NH2 (Aspergillus sp.) cùng các thông số hoạt tính kháng sinh định lượng. Kiến nghị tập trung vào việc giải trình tự gen sinh học phân tử để định danh chính xác loài và tiến hành tinh sạch cấu trúc hóa học của các chất kháng sinh trong dịch chiết.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Phân lập thành công 54 chủng vi nấm thuần từ 07 mẫu hải miên thu thập tại vùng biển Hải Phòng, xác lập cơ sở dữ liệu ban đầu về đặc tính hình thái khuẩn lạc (7 nhóm màu và 5 dạng hệ sợi).
  • Đánh giá được phổ kháng sinh in vitro của tập đoàn vi nấm: 40,7% số chủng có hoạt tính ở bước sàng lọc sơ bộ và 9,1% số chủng giữ được hoạt tính ức chế đa vi sinh vật sau lên men dịch thể.
  • Tuyển chọn được 2 chủng nấm tiềm năng NH1 (dự báo thuộc chi Talaromyces sp.) và NH2 (dự báo thuộc chi Aspergillus sp.) có khả năng ức chế 5/8 chủng VSVKĐ thử nghiệm.
  • Xác định được giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cặn chiết ethyl acetate từ 2 chủng tuyển chọn: ức chế E. coli, B. subtilis, A. niger ở nồng độ 50 µg/ml; ức chế S. aureus và S. cerevisiae ở nồng độ từ 50 đến 100 µg/ml.
  • Xác định được các điều kiện lên men rắn cơ bản trên môi trường RYE (thời gian nuôi cấy 18–28 ngày, độ mặn 30–33 g/l, pH 6–8) giúp tối ưu hóa quá trình sinh tổng hợp chất kháng sinh.

Đóng góp của đề tài

  • Đây là một trong những công trình thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam khảo sát một cách có hệ thống về khu hệ vi nấm liên kết trên hải miên tại vùng biển vịnh Bắc Bộ.
  • Chứng minh được tiềm năng ứng dụng của vi nấm liên kết hải miên trong việc sản xuất các hợp chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm chọn lọc, mở ra hướng nghiên cứu mới thay thế cho việc khai thác trực tiếp mô động vật biển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận

  • Việc định danh 2 chủng nấm triển vọng NH1 và NH2 mới dừng lại ở mức độ phân loại hình thái học vi thể và đại thể (dự báo cấp chi), chưa tiến hành tách chiết DNA và giải trình tự vùng phiên mã nội bộ (vùng gen ITS/18S rDNA) để xác định chính xác tên loài.
  • Dịch chiết ethyl acetate mới dừng lại ở mức cặn chiết thô tổng số; chưa thực hiện sắc ký phân đoạn để cô lập, tinh sạch và xác định cấu trúc hóa học phân tử của các hợp chất kháng sinh chịu trách nhiệm cho hoạt tính.
  • Các khảo sát điều kiện lên men (thời gian, nồng độ muối, pH) mới khảo sát đơn yếu tố trên môi trường rắn RYE, chưa áp dụng các mô hình tối ưu hóa đa yếu tố (Response Surface Methodology - RSM).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiến hành tách chiết DNA tổng số, nhân bản và giải trình tự đoạn gen ITS1-5.8S-ITS2 để định danh chính xác loài đối với chủng NH1 và NH2.
  • Quy mô hóa quá trình lên men rắn trên môi trường RYE để thu nhận lượng lớn cao chiết; sử dụng các phương pháp sắc ký (sắc ký cột, HPLC) kết hợp phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và phổ khối (MS) nhằm phân lập, giải mã cấu trúc hóa học các hoạt chất kháng sinh tinh khiết.
  • Mở rộng đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập được trên các dòng tế bào ung thư người và các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc (MRSA, VRE).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên thuộc các chuyên ngành Công nghệ Sinh học, Vi sinh vật học, Dược học, Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên và Sinh học Biển.
  • Nội dung giá trị:
    • Quy trình kỹ thuật phân lập vi sinh vật liên kết biển (phân lập nội sinh và ngoại sinh từ mô động vật không xương sống).
    • Phương pháp tích hợp sàng lọc hoạt tính sinh học từ thử nghiệm khuếch tán trên đĩa thạch đến đánh giá nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên phiến 96 giếng.
    • Công thức môi trường lên men rắn RYE (Rice Yeast Extract) và quy trình chiết tách cặn ethyl acetate từ cơ chất nấm biển.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài đã thu thập bao nhiêu mẫu hải miên và phân lập được tất cả bao nhiêu chủng vi nấm thuần?

Tác giả đã thu thập 07 mẫu hải miên tại khu vực vịnh Hải Phòng (vùng biển Bắc Bộ, Việt Nam) với các ký hiệu mẫu: HM01, BLVHM02, MXSHM, HM01HG, SHMO5, RB02IS2 và SHCO13. Từ 07 mẫu này, sau khi xử lý vô trùng bề mặt và nuôi cấy trên môi trường nấm biển thạch ở 28°C trong 4 ngày, đã phân lập và làm sạch được tổng cộng 54 chủng vi nấm khác nhau.

2. Sự đa dạng hình thái của 54 chủng vi nấm được phân lập thể hiện qua những đặc điểm nào?

Sự đa dạng của 54 chủng nấm biểu hiện rõ nét qua màu sắc khuẩn lạc và cấu trúc hệ sợi:

  • Về màu sắc (7 nhóm): Màu xanh chiếm tỷ lệ cao nhất với 20 chủng (37,0%), màu trắng có 19 chủng (35,2%), màu vàng có 6 chủng (11,1%), màu hồng có 3 chủng (5,5%), màu cam có 3 chủng (5,5%), màu nâu có 2 chủng (3,7%) và màu đen có 1 chủng (1,85%).
  • Về hệ sợi (5 dạng): Dạng bông sợi chiếm đa số với 34 chủng (63,0%), dạng sợi thưa có 10 chủng (18,5%), dạng nhăn có 4 chủng (7,4%), dạng trơn có 3 chủng (5,5%) và dạng hạt có 3 chủng (5,5%).

3. Hai chủng vi nấm NH1 và NH2 được tuyển chọn có đặc điểm hình thái và phân loại sơ bộ như thế nào?

  • Chủng NH1: Khuẩn lạc sinh trưởng chậm (đạt 2,5–3,0 cm sau 7 ngày ở 28°C); sợi nấm có vách ngăn; cuống sinh bào tử thành dày; bào tử đính hình kim mọc từ 1 đến 3 bào tử; bào tử nhẵn hình elip kích thước 23 × 1,5–2,5 µm. Dựa trên hình thái vi học, NH1 được dự báo thuộc chi Talaromyces sp.
  • Chủng NH2: Khuẩn lạc sinh trưởng nhanh (đạt 4 cm sau 4 ngày ở 28°C); hệ sợi dày bông xốp màu trắng sữa; tiết sắc tố hòa tan màu nâu; sợi nấm phân nhánh; cuống sinh bào tử dạng ống mọc trực tiếp từ sợi nấm (kích thước 12–20 × 1,5–2,0 µm); túi sinh bào tử hình bầu dục kích thước 3–3,5 × 2–3 µm. NH2 được dự báo thuộc chi Aspergillus sp.

4. Giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cặn chiết từ chủng NH1 và NH2 đối với các vi sinh vật kiểm định là bao nhiêu?

Thử nghiệm trên phiến vi lượng 96 giếng cho thấy cặn chiết ethyl acetate của cả hai chủng đều có hoạt tính kháng tốt đối với 5/8 chủng VSVKĐ:

  • Đối với Escherichia coli, Bacillus subtilis và Aspergillus niger, cả NH1 và NH2 đều đạt giá trị MIC là 50 µg/ml.
  • Đối với Staphylococcus aureus, chủng NH1 đạt MIC = 100 µg/ml trong khi NH2 đạt MIC = 50 µg/ml.
  • Đối với Saccharomyces cerevisiae, chủng NH1 đạt MIC = 50 µg/ml trong khi NH2 đạt MIC = 100 µg/ml.
  • Cả hai cặn chiết đều không thể hiện hoạt tính ức chế đối với Pseudomonas aeruginosa, Candida albicans và Fusarium oxysporum ở dải nồng độ thử nghiệm.

5. Phương pháp lên men và dung môi nào đã được sử dụng để thu hồi các hợp chất thứ cấp?

Các chủng nấm tuyển chọn được lên men rắn trên môi trường RYE (chứa 50 g gạo, 0,05 g cao nấm men, 0,02 g KH2PO4 và 50 ml nước biển nồng độ muối 30 g/l) trong bình tam giác 1000 ml ở nhiệt độ phòng. Sau thời gian nuôi cấy 28 ngày, toàn bộ sinh khối nấm và cơ chất được ngâm chiết tĩnh với dung môi ethyl acetate (tỷ lệ 200 ml dung môi cho mỗi bình lên men 500 ml) trong thời gian 48 giờ, lặp lại quá trình chiết 3 lần và cô quay chân không ở 40°C để thu hồi cặn chiết thô.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Thị Thanh An đã thực hiện thành công việc phân lập 54 chủng vi nấm liên kết từ 07 mẫu hải miên thu thập tại vùng biển Hải Phòng, phản ánh tính đa dạng hình thái phong phú của khu hệ vi nấm biển Bắc Bộ. Nghiên cứu đã sàng lọc và tuyển chọn được hai chủng vi nấm có tiềm năng sinh học cao là NH1 (dự báo thuộc chi Talaromyces sp.) và NH2 (dự báo thuộc chi Aspergillus sp.) với khả năng ức chế 5/8 chủng vi sinh vật kiểm định chuẩn ở dải nồng độ MIC từ 50 đến 100 µg/ml. Kết quả đạt được cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng về phương pháp nuôi cấy, lên men rắn và đánh giá hoạt tính kháng sinh in vitro, tạo tiền đề khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về phân lập và tinh sạch các hợp chất chuyển hóa thứ cấp có giá trị dược học từ nguồn tài nguyên sinh vật biển Việt Nam.