CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ 1.Tổng quan về hạ tầng kỹ thuật đô thị 1. Các khái niệm cơ bản về hạ tầng kỹ thuật Theo Luật xây dựng, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác. Theo Luật Quy hoạch đô thị, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật là một nội dung trong đồ án quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết; đối với thành phố trực thuộc Trung ương, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật được lập riêng thành đồ án quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật.
Ngoài ra, Luật cũng quy định quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị trong đồ án được lập cho các đối tượng: giao thông đô thị, cao độ nền và thoát nước mặt đô thị, cấp nước đô thị, Thoát nước thải đô thị, Cấp năng lượng và chiếu sáng đô thị, Thông tin liên lạc, Nghĩa trang và xử lý chất thải rắn. Trong đó, nội dung nghiên cứu của các đối tượng trên cũng được thể hiện rõ như sau: Quy hoạch giao thông đô thị bao gồm việc xác định quỹ đất dành cho xây dựng và phát triển giao thông, vị trí, quy mô công trình đầu mối; tổ chức hệ thống giao thông đô thị trên mặt đất, trên cao và dưới mặt đất; xác định phạm vi bảo vệ và hành lang an toàn giao thông; Quy hoạch cao độ nền và thoát nước mặt đô thị bao gồm việc xác định khu vực thuận lợi cho việc xây dựng trong từng khu vực và đô thị; xác định lưu vực thoát nước chính, khu vực cấm và hạn chế xây dựng, cốt xây dựng, mạng lưới thoát nước mặt và công trình đầu mối; giải pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai; Quy hoạch cấp nước đô thị bao gồm việc xác định nhu cầu và lựa chọn nguồn nước; xác định vị trí, quy mô công trình cấp nước gồm mạng lưới tuyến truyền tải và phân phối, nhà máy, trạm làm sạch, phạm vi bảo vệ nguồn nước và hành lang bảo vệ công trình cấp nước; Quy hoạch thoát nước thải đô thị bao gồm việc xác định tổng lượng nước thải, vị trí và quy mô công trình thoát nước gồm mạng lưới tuyến ống thoát, nhà máy, trạm xử lý nước thải, khoảng cách ly vệ sinh và hành lang bảo vệ công trình thoát nước thải đô thị; Quy hoạch cấp năng lượng và chiếu sáng đô thị bao gồm việc xác định nhu cầu sử dụng năng lượng, nguồn cung cấp, yêu cầu bố trí địa điểm, quy mô công trình đầu mối, mạng lưới truyền tải, mạng lưới phân phối; hành lang an toàn và phạm vi bảo vệ công trình; giải pháp tổng thể về chiếu sáng đô thị; -11- Đánh giá việc sử dụng hồ sơ quy hoạch hạ tầng kỹ thuật trong quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch Quy hoạch thông tin liên lạc bao gồm việc xác định tuyến truyền dẫn thông tin, vị trí, quy mô trạm vệ tinh, tổng đài và công trình phụ trợ kèm theo; Quy hoạch xử lý chất thải rắn bao gồm việc xác định tổng lượng chất thải, vị trí, quy mô trạm trung chuyển, cơ sở xử lý chất thải rắn, công trình phụ trợ, khoảng cách ly vệ sinh của cơ sở xử lý chất thải rắn; Quy hoạch nghĩa trang bao gồm việc xác định nhu cầu an táng, vị trí, quy mô và ranh giới nghĩa trang, phân khu chức năng, bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật và khoảng cách ly vệ sinh của nghĩa trang.Vai trò của hạ tầng kỹ thuật Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị đóng một vai trò trọng yếu trong đời sống kinh tế, xã hội của đô thị. Thông qua hệ thống này người dân trong đô thị có thể tiến hành các hoạt động kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa. Có thể nói hạ tầng kỹ thuật chính là động lực để đô thị phát triển, đồng thời mở ra khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư đa dạng cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Trên thực tế phát triển cho thấy rằng một khu vực thiếu động lực phát triển kinh tế với các hoạt động sản xuất nhỏ lẻ sẽ được đánh thức sau khi được đầu tư các dự án hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là dự án giao thông, giá trị sử dụng đất của khu vực sẽ tăng cao góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại, dịch vụ của địa phương và thu hút các dự án đầu tư. Phát triển kết cấu hạ tầng góp phần bảo vệ môi trường và tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Một khu vực dân cư có hệ thống hạ tầng kỹ thuật yếu và thiếu như: giao thông không hoàn chỉnh; nước thải, rác thải không được thu gom xử lý; thiếu nước sạch… sẽ đối mặt với những bất tiện một cách thường nhật như: tiềm ẩn những rủi ro từ hệ thống giao thông, chất lượng cuộc sống kém do môi trường nước, không khí bị ô nhiễm bởi lượng nước thải không qua xử lý và rác thải không được thu gom hàng ngày. Môi trường sống kém sẽ là cơ hội tốt cho các bệnh truyền nhiễm sinh sôi và phát triển.
Do đó, có thể thấy rằng việc phát triển hạ tầng có những tác động sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người dân và môi trường tự nhiên. Thực trạng hạ tầng kỹ thuật Trong những năm qua quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra nhanh chóng trên phạm vi cả nước nên nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị như hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, cây xanh, thu gom và xử lý chất thải rắn. của các đô thị đặc biệt các đô thị tỉnh lỵ được đầu tư xây dựng, cải tạo và phát triển khá nhanh, bước đầu đã góp phần phục vụ sản xuất, đời sống của người dân đô thị và đang từng bước hoàn thiện để đảm bảo một cơ sở vật chất thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề để nâng cao điều kiện sống -12- Đánh giá việc sử dụng hồ sơ quy hoạch hạ tầng kỹ thuật trong quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch góp phần xoá đói giảm nghèo của người dân cũng như tạo lập một nền tảng phát triển đô thị bền vững. Mặc dù được quan tâm đầu tư nhưng các công trình kỹ thuật hạ tầng tại nhiều đô thị vẫn còn thiếu, xuống cấp nghiêm trọng: Giao thông đô thị chưa đáp ứng nhu cầu đi lại của dân cư, các phương tiện giao thông ngày càng tăng nhanh, các hiện tượng về ùn tắc giao thông vẫn xảy ra thường xuyên.
Dịch vụ cấp nước chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, khoảng 76% dân số đô thị được cấp nước, mức sử dụng nước sạch đô thị đạt 90 lít/người/ngày; đặc biệt nhiều đô thị nhỏ hiện còn dùng nước chưa qua xử lý. Về thoát nước, tỷ lệ chiều dài tuyến cống trên đầu người các đô thị lớn đạt 0,2 - 0,25 m/người. Hầu hết các thành phố, thị xã là tỉnh lỵ cơ bản đã có hệ thống thoát nước. Tuy nhiên, hệ thống thoát nước vẫn còn yếu và thiếu, tình trạng ngập úng thường xảy ra đặc biệt tại thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Nước thải phần lớn chưa được xử lý, chảy thẳng ra sông hồ gây ô nhiễm môi trường. Về xử lý chất thải rắn, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các đô thị khoảng 29.000 tấn/ngày, tỷ lệ thu gom và xử lý trung bình đạt khoảng 83%. Nhiều thành phố đã có quy hoạch xây dựng các cơ sở xử lý rác thải, nhưng chủ yếu vẫn áp dụng các biện pháp truyền thống (tập trung, chôn lấp…). (Vụ Kết cấu hạ tầng và đô thị, 2015) Đối với các khu vực nội thành, tình hình xây dựng, nâng cấp các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị như đường xá, đường ống cấp thoát nước, cáp điện ngầm - thường thi công xây dựng không cùng thời điểm, không cùng thời gian.
Đường phố đô thị thường đào lên lấp xuống trong thời gian rất ngắn. Dự án xây dựng cải tạo một tuyến đường phố thường chỉ tập trung các hạng mục thi công về mặt đường và nếu có chỉ có thêm một phần hệ thống thoát nước mưa dọc hai bên đường kết hợp hè phố, còn phần lớn lại không kết hợp thi công các công trình hạ tầng kỹ thuật khác dọc hai bên tuyến đường như cấp nước, thoát nước bẩn, cấp điện, thông tin liên lạc. Hoặc tổ chức xây dựng ngay các tuyến cấp nước, cấp điện hay thoát nước trên các hè phố vừa mới được cải tạo nâng cấp trước đó không lâu. Hiện nay, quá trình đầu tư xây dựng các khu đô thị mới đang diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn Tp.
Các khu vực này được xây dựng khá đồng bộ, các công trình hạ tầng kỹ thuật ở bên trong ranh giới đất được giao, còn bên ngoài khu vực dự án thì trách nhiệm cụ thể về ai, sự khớp nối giữa các công trình hạ tầng bên trong và bên ngoài hàng rào chưa có hoặc nếu có cũng không được tuân thủ nghiêm chỉnh. Do vậy, nếu không có giải pháp thích hợp để giải quyết vấn đề này thì hệ thống hạ tầng kỹ thuật sẽ manh mún, độc lập với nhau mà hậu quả trước mắt là gây úng ngập cục bộ, ô nhiễm môi trường. và nhiều vấn đề phát sinh chưa thể lường trước.HCM thực tế này có thể quan sát rõ ở các vùng mới phát triển như quận 2, quận 9, Thủ Đức, Bình Chánh… Các dự án bất động sản phát triển một cách rầm rộ khu vùng ven nhằm đón bắt sự phát triển của hạ -13- Đánh giá việc sử dụng hồ sơ quy hoạch hạ tầng kỹ thuật trong quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch tầng giao thông trong tương lai, điển hình có thể thấy rõ tại các dự án: Khu biệt thự Centana (Quận 9), Khu dân cư Phú Xuân (H. Nhà Bè), Khu đô thị Vista (H.
Các công trình HTKT bên trong các khu dân cư này được đầu tư xây dựng mới nên khá đồng bộ, hoàn chỉnh. Mạng lưới giao thông nội khu đảm bảo về tỷ lệ, mật độ. Hệ thống thoát nước xây dựng riêng, mạng điện, thông tin liên lạc đi ngầm. Về cơ bản, các tiện ích hạ tầng tại những khu vực xây dựng mới mang lại chất lượng cuộc sống cho cư dân tốt hơn so với khu vực hiện hữu.
Tuy nhiên, HTKT kết nối và lân cận chưa được đầu tư xây dựng, thậm chí có những khu dân cư để tiếp cận phải sử cầu tạm. Việc phát triển các đô thị tại Tp.