CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH NGÀNH THAN VÀ MÔI TRƯỜNG 1. Tình hình phát triển ngành than trên thế giới 1. Các giai đoạn phát triển của thị trường khai thác, sàng tuyển, tiêu thụ than trên thế giới Công nghiệp khai thác than xuất hiện tương đối sớm và được phát triển từ nửa sau thế kỉ XIX.
Sản lượng than khai thác rất khác nhau giữa các thời kì, giữa các khu vực và các quốc gia, song nhìn chung, có xu hướng tăng lên. Trong vòng 50 năm qua, tốc độ tăng trung bình là 5,4%/năm, còn cao nhất vào thời kì 1950 - 1980 đạt 7%/năm. Từ đầu thập kỉ 90 đến nay, mức tăng giảm xuống chỉ còn 1,5%/năm [66]. Mặc dù việc khai thác và sử dụng than có thể gây hậu quả xấu đến môi trường (đất, nước, không khí.), song nhu cầu than không vì thế mà giảm đi.
Các khu vực và quốc gia khai thác nhiều than đều thuộc về các khu vực và quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới. Sản lượng than tập trung chủ yếu ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Mỹ, Nga và một số nước Đông Âu. Các nước sản xuất than hàng đầu là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Ôxtrâylia, Nga, chiếm tới 2/3 sản lượng than của thế giới. Nếu tính cả một số nước như Nam Phi, CHLB Đức, Ba Lan, CHDCND Triều Tiên.
thì con số này lên đến 80% sản lượng than toàn cầu. [68] Công nghiệp khai thác than ra đời trước tiên ở Anh, sau đó, người ta tìm thấy nhiều than ở Hoa Kỳ, Ấn Độ, Canađa. Vì thế các quốc gia này lần lượt dẫn đầu về sản lượng than khai thác của thế giới. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hàng loạt bể than khổng lồ đã được phát hiện ở Êkibát, Nam Yacút, Đônbát (Liên Xô cũ), ở Ba Lan, Đông Đức.
Trong nhiều năm, Liên Xô dẫn đầu về sản lượng than. Từ sau năm 1990 do những biến động về chính trị và kinh tế nên sản lượng than ở Đông Âu và Liên Xô cũ bị giảm sút. Từ thập niên 90 của thế kỷ XX, việc tìm ra những mỏ than lớn ở Trung Quốc đã giúp nước này đứng đầu thế giới về khai thác than, vượt trên cả Hoa Kỳ [74]. Thị trường than quốc tế mới chỉ chiếm trên 10% sản lượng than khai thác.
Việc buôn bán than gần đây phát triển nhờ thuận lợi về giao thông đường biển, song sản lượng than xuất khẩu không tăng nhanh, chỉ dao động ở mức 550 đến 600 triệu tấn/năm. Từ nhiều năm nay, Ôxtrâylia luôn là nước xuất khẩu than lớn nhất thế giới, Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 9 chiếm trên 35% (210 triệu tấn năm 2001) lượng than xuất khẩu. Tiếp sau là các nước Trung Quốc, Nam Phi, Hoa Kỳ, Inđônêxia, Côlômbia, Canađa, Nga, Ba Lan. Các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Pháp, Italia, Anh.
có nhu cầu rất lớn về than và cũng là các nước nhập khẩu than chủ yếu. Theo BP Statistical (2021): từ năm 1991 đến 2015, tình hình khai thác than thế giới có những mốc sụt giảm đáng chú ý với nguyên nhân chính từ các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính lớn trên thế giới [76]. Cụ thể là: Giai đoạn 1991÷1993: Tăng trưởng khai thác than thế giới bị âm (-3,9%; - 0,8% và -2,7%) do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực ngân hàng (tác động đến giao dịch thương mại quốc tế) và khủng hoảng của nền kinh tế Ấn Độ (một quốc gia khai thác, sử dụng than lớn trên thế giới). Giai đoạn 1997÷1998: Một lần nữa khai thác than tăng trưởng âm (-1,7%) khi châu Á - tiêu thụ than lớn nhất thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính.
Giai đoạn 2002÷2003: Tốc độ tăng trưởng khai thác than giảm xuống dưới 1% khi kinh tế Nam Mỹ khủng hoảng. Giai đoạn 2008÷2009: Tốc độ tăng trưởng khai thác than giảm 0,02% khi cả thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính. Giai đoạn 2014÷2015: Tốc độ tăng trưởng khai thác than giảm 4,0%, chủ yếu do tác động của giá dầu giảm và suy giảm kinh tế làm cho nhu cầu than giảm. Châu Á dẫn đầu thế giới về sản lượng khai thác than gần như trong toàn giai đoạn 1991÷2015.
Xu hướng sản xuất than trong 25 năm qua giữa các khu vực cũng có sự khác nhau. Khu vực Bắc Mỹ giảm, Trung Đông và châu Âu và Eurasia có xu hướng giảm. Trong khi khu vực châu Á - Thái Bình Dương, châu Phi, Trung - Nam Mỹ có xu hướng tăng mạnh, nhưng đến 2015 thì giảm. Theo BP Statistical (2021), sản lượng than thế giới năm 2015 đạt 3.830,1 triệu TOE (tương ứng khoảng 7.
Trong đó, châu Á - Thái Bình Dương chiếm 70,6%; khu vực Bắc Mỹ chiếm 12,9%; khu vực châu Âu và Eurasia chiếm 11% và châu Phi chiếm 3,9%. Sản lượng than khu vực châu Á - Thái Bình Dương đạt 2.702,6 triệu TOE (tương ứng khoảng 5.440 triệu tấn), tính riêng cho Trung Quốc 1.827 triệu TOE (bằng 3.693 triệu tấn, chiếm 47,7%), tiếp theo là Ấn Độ, Australia, Indonesia lần lượt là 283,9 triệu tấn TOE (681 triệu tấn); 275 triệu TOE (483,5 triệu tấn) và 241,1 triệu TOE (394,6 triệu tấn). Sản lượng than khu vực châu Âu và Eurasia đạt 419,8 triệu Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 10 TOE (tương ứng khoảng 1. Trong đó, Nga 184,5 triệu TOE (tương ứng khoảng 372 triệu tấn).
Tiếp theo là Đức, Ba Lan và Kazacxtan lần lượt là 42,9; 53,7 và 45,8 triệu TOE (tương ứng khoảng 184,3; 136,6 và 106,3 triệu tấn). Sản lượng than Bắc Mỹ đạt 494,3 triệu TOE (tương ứng khoảng 888 triệu tấn). Trong đó, Mỹ 455,2 triệu TOE (tương ứng khoảng 812 triệu tấn), Canada 32,1 triệu TOE (tương ứng khoảng 60,9 triệu tấn). Dự báo sản lượng khai thác và tiêu thụ than trong thời gian tới Theo dự báo của FOCUSECONOMICS tháng 5/2016, sản lượng than đến năm 2035 của toàn thế giới như bảng 1.
Dự báo sản lượng than đến năm 2035 của toàn thế giới [75] Dự báo sản lượng than (triệu TOE) Tăng/giảm Tăng/giảm Tăng/giảm Khu vực Năm Năm so với năm so với năm 2035 so với năm 2025 2030 2015, % 2015, % 2015, % 1. Châu Âu và Eurasia 393 -6,4 388 -7,6 385 -8,3 3. Châu Á - Thái Bình +22,0 +26,2 3. Các khu vực khác 234,7 +10,5 247,6 +16,0 267,6 +25,4 Toàn thế giới 4.586 Khối lượng than tiêu thụ dự báo đến năm 2035 của toàn thế giới được trình bày trong bảng 1.
Dự báo khối lượng than tiêu thụ đến năm 2035 của toàn thế giới [75] Dự báo khối lượng than tiêu thụ (triệu TOE) Tăng/giả Tăng/giảm Tăng/giảm Khu vực Năm m so với Năm so với năm 2035 so với năm 2025 năm 2015, 2030 2015, % 2015, % % 1. Châu Âu và Eurasia 435 -7,0 404 -13,6 377 -19,4 3.Châu Á-Thái Bình +21,5 3.726 +33,1 Dương Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 11 4. Các khu vực khác 167 +15,6 184 +27,3 207 +43,3 Toàn thế giới 4.564 +18,9 Trong đó, khối lượng than tiêu thụ dự báo của Việt Nam đến năm 2030 theo nhu cầu sử dụng than trong nước được trình bày trong bảng 1. Dự báo nhu cầu than sử dụng tại Việt Nam theo các giai đoạn [5] TT Nhu cầu than Năm 2025 (triệu tấn) Năm 2030 (triệu tấn) 1 Nhiệt điện 96,5 131,1 2 Phân bón, hóa chất 5,0 5,0 3 Xi măng 6,7 6,9 4 Luyện kim 7,2 7,2 5 Các hộ khác 6,1 6,4 Tổng số 121,5 156,6 Qua số liệu nêu ở bảng 1.2 ở trên và xét trên tổng thể về lượng cho thấy: Sản lượng và nhu cầu tiêu thụ than thế giới vẫn tiếp tục gia tăng, chủ yếu do sự gia tăng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và các khu vực khác (châu Phi, Trung - Nam Mỹ); khu vực châu Âu và Eurasia có sự giảm nhẹ, còn tại khu vực Bắc Mỹ giảm mạnh [75].
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương cầu luôn vượt cung, phải nhập khẩu từ ngoài khu vực - chủ yếu là Bắc Mỹ và các khu vực khác. Riêng châu Âu và Eurasia cho đến năm 2030 vẫn phải nhập khẩu than, tuy có sự giảm dần và sau 2030 sẽ cân đối được cung cầu. Theo IEA, nhu cầu than toàn cầu dự kiến sẽ tăng trung bình 0,5% mỗi năm lên 5,534 tỷ tấn vào năm 2022, chỉ cao hơn mức hiện tại một chút và có nghĩa là lượng than sẽ được sử dụng bị trì trệ trong vòng một thập kỷ. [75] Việc sử dụng than đá sẽ giảm ở châu Âu, Canada, Mỹ và Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ than lớn nhất thế giới, nhưng tăng ở các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh.
Trong giai đoạn 2020-2022, tiêu thụ than đá của Ấn Độ được đánh giá là tăng trưởng nhiều nhất ở mức 3,3% mỗi năm lên đến 605 triệu tấn. Chạm đỉnh vào năm 2013, tiêu thụ của Trung Quốc dự kiến sẽ giảm 0,1%/năm xuống còn 2,787 tỷ tấn vào năm 2022. Nguyên nhân là vì việc sử dụng than trong các ngành công nghiệp và khu dân cư giảm dưới nỗ lực cải thiện chất lượng không khí của chính quyền Bắc Kinh. [66] Tiêu thụ than tại Mỹ sẽ tăng nhẹ vào năm tới và sau đó giảm xuống còn 469 triệu tấn vào năm 2022, trong khi tiêu thụ của EU được Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 12 dự báo sẽ giảm xuống còn 293 triệu tấn vào năm 2022.
Về phía nguồn cung, tổng nguồn cung than đá toàn cầu dự kiến sẽ tăng 0,8% mỗi năm lên 5,534 tỷ tấn vào năm 2020, chủ yếu là bởi các quốc gia không thuộc OECD. Theo báo cáo, tỷ trọng than đá trong hỗn hợp năng lượng toàn cầu được dự báo sẽ giảm xuống còn 26% vào năm 2022, so với mức 27% trong năm 2016. Sau nhiều năm sụt giảm, giá than tiếp tục tăng mạnh trong năm nay, nhờ sản lượng than của Trung Quốc giảm mạnh cùng với nhu cầu mạnh mẽ của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và châu Âu. Hợp đồng tương lai than đá Châu Âu API2 2018 hiện đang được giao dịch trong khoảng 90 USD/tấn vì nhu cầu cao ở Trung Quốc và các vấn đề nguồn cung.
Mặc dù giá cao trong năm 2016 - 2017, dự án phát triển than đá đã bị chậm lại. Theo IEA, nhu cầu suy yếu và triển vọng không chắc chắn đối với Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như Hàn Quốc và Nhật Bản đã khiến cho các khoản đầu tư dừng lại. [5] Như vậy, đầu tư các dự án khai thác than đang là một trong những mảng đầu tư lớn không chỉ một nước mà còn cho nhiều nước khác nhau trên thế giới.