CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề cơ bản của hoạt động môi giới chứng khoán 1. Khái niệm Môi giới chứng khoán (MGCK) hay brokerage là thuật ngữ quen thuộc với hầu hết nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán. Trong cách đầu tư truyền thống, môi giới có vai trò rất quan trọng, là trung gian thực hiện các giao dịch mua/bán của NĐT.
Theo Khoản 29 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019, "Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng". Giáo trình “Thị trường chứng khoán” xuất bản năm 2007 của Đại học Kinh tế quốc dân định nghĩa “Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng (KH) để hưởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng khoán đại diện cho KH tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính KH phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của chính mình”. Như vậy, CTCK sẽ thực hiện lệnh cho KH và được hưởng hoa hồng từ hoạt động đó.
Số tiền hoa hồng môi giới được tính trên tỷ lệ phần trăm doanh số mua, bán đã thực hiện cho KH. Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán Trong công ty chứng khoán (CTCK), hoạt động môi giới là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng nhất. CTCK là nơi hoạt động MGCK diễn ra, đây cũng là nơi đảm bảo các điều kiện vật chất bao gồm: địa điểm giao dịch, hệ thống máy móc thiết bị nối mạng với Sở giao dịch chứng khoán, các cơ sở vật chất khác phục vụ cho việc giao dịch của khách hàng… Hoạt động MGCK có vai trò hết sức quan trọng. Hoạt động này giúp kết nối các NĐT với nhau và góp phần phát triển TTCK và nền kinh tế.
Hoạt động MGCK giúp giảm thiểu chi phí giao dịch nhờ lợi thế chuyên môn hoá. Đối với thị trường nói chung và TTCK nói riêng, khi người mua và người bán muốn tiến hành giao dịch, họ phải gặp gỡ, trao đổi, đánh giá chất lượng hàng hóa và giá cả. Tuy nhiên, giao dịch chứng khoán là giao dịch tài sản vô hình, do vậy rất khó khăn cho cả người mua và 3 người bán trong việc tìm kiếm người có nhu cầu phù hợp về khối lượng, giá cả, điều khoản mua bán. Bên cạnh đó, việc trao đổi chứng khoán với nhau cũng như hoàn chỉnh các giao dịch, thanh toán và chuyển giao chứng khoán với chi phí thấp cũng khó lòng có thể thực hiện được nếu các NĐT tự tiến hành giao dịch với nhau trên thị trường.
Có thể nói, để tìm kiếm được người mua và người bán cũng như thẩm định chất lượng hàng hóa cần phải có một khoản chi phí khổng lồ để tiến hành thu thập và xử lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành quy trình giao dịch trên thị trường. Với đặc điểm đó, TTCK đòi hỏi phải có các nhà MGCK có trình độ để tìm kiếm đối tác và hỗ trợ thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán với chi phí thấp. Ngoài ra, hoạt động MGCK góp phần phát triển sản phẩm và dịch vụ trên TTCK. Thông qua quá trình làm trung gian giữa người mua và người bán, nhân viên MGCK có thể nắm bắt được nhu cầu của KH và phản ánh với người cung cấp sản phẩm dịch vụ.
Từ đó đa dạng hóa số lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, thu hút ngày càng nhiều KH cũng như nguồn vốn đầu tư dồi dào làm tăng trưởng kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, hoạt động MGCK góp phần hình thành nền văn hoá đầu tư dựa trên chức năng, đặc điểm riêng của mình. Trước đây, khi môi trường đầu tư còn thô sơ, người dân chưa có thói quen sử dụng tiền đầu tư vào các tài sản tài chính để sinh lợi. Chính vì vậy, để thu hút người dân đầu tư, hoạt động MGCK ra đời, nhà môi giới sẽ tiếp cận với KH tiềm năng và thực hiện đáp ứng nhu cầu của họ bằng các sản phẩm tài chính phù hợp, cung cấp cho KH những kiến thức, thông tin mới nhất để thuyết phục KH mở tài khoản và tham gia đầu tư chứng khoán.
Hoạt động này dần dần sẽ giúp cho người dân có được những hiểu biết và kinh nghiệm đầu tư chứng khoán, cũng như hình thành các kỹ năng dự đoán, lựa chọn và phối hợp các sản phẩm phòng ngừa để giảm thiểu rủi ro nhờ đó có thể thu được lợi nhuận lớn. Cuối cùng, hoạt động MGCK cũng góp phần cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường. Các thông tin có thể được cung cấp bao gồm về thông tin về cổ phiếu, thông tin giao dịch, tổ chức phát hành, dữ liệu ngành và doanh nghiệp, từ đó, cơ quan quản lý thị trường có cơ sở dữ liệu tham khảo để có các biện pháp điều chỉnh, kiểm soát thị trường một cách hợp lý. Hiệu quả hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 1.
Quan điểm về hiệu quả hoạt động môi giới Hoạt động môi giới chứng khoán có thể được coi là một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh nói chung của công ty chứng khoán. Trước hết, hiệu quả hoạt động kinh doanh (Business Efficiency) là một phạm trù có khả năng phản ánh được cách mà doanh nghiệp đang sử dụng nguồn nhân lực. Để từ đó đạt được hiệu quả cao nhất các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh được xác định. Cụ thể, doanh nghiệp có thể so sánh sự chênh lệch giữa kết quả đầu ra và kết quả đầu vào, giữa chi phí đầu tư và doanh thu nhận được.
Chỉ các doanh nghiệp kinh doanh mới cần đánh giá chỉ số này bởi mục tiêu mà họ hướng đến chính là tối đa hoá lợi nhuận. Theo lý thuyết hiệu quả, nhà kinh tế xã hội học người - Vilfredo Pareto (1906) nêu rằng, “Với nhóm các cá nhân và nhiều cách phân bổ nguồn lực khác nhau cho mỗi cá nhân trong nhóm đó, việc chuyển từ một phân bổ này sang một phân bổ khác mà làm ít nhất một cá nhân có điều kiện tốt hơn nhưng không làm cho bất cứ một cá nhân nào khác có điều kiện xấu đi”. Điều này trong nền kinh tế có ý nghĩa tương đương với mục tiêu lợi nhuận tối đa. Đối với các doanh nghiệp nói chung và các CTCK nói riêng thì họ đều làm việc xoay quanh trục lợi ích như lợi nhuận, doanh thu, thị phần, mối quan hệ với KH.
Từ đó có thể thấy vai trò của các hoạt động môi giới là vô cùng cần thiết, yêu cầu các chủ thể sử dụng tối ưu, không lãng phí nguồn nhân lực, nguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả, giúp giữ chân KH cũ và thu hút thêm KH mới cho công ty. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới Để đánh giá về hiệu quả hoạt động môi giới của công ty chứng khoán, ta cần kết hợp giữa các chỉ tiêu định tính và định lượng để đưa ra đánh giá tổng quan và chính xác nhất. Các chỉ tiêu định lượng: Số lượng tài khoản được mở: Để giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư cần mở tài khoản giao dịch, số lượng tài khoản tăng chứng tỏ khách hàng đang có nhu cầu giao dịch chứng khoán. Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam VSD thông báo 5 có hơn 4,9 triệu tài khoản giao dịch chứng khoán của NĐT trong nước và nước ngoài tại ngày 31/03/2022 theo quản lý trên hệ thống của VSD.
Theo thời gian, hệ thống tài khoản mới mở ngày càng tăng thể hiện càng nhiều người bắt đầu tham gia đầu tư chứng khoán, từ đó có thể thấy đây là một trong những yếu tố phản ánh cơ bản và khái quát để phản ánh hiệu quả môi giới của một công ty chứng khoán. Số lượng tài khoản mở càng nhiều chứng tỏ việc môi giới diễn ra có hiệu quả, không chỉ giữ chân khách hàng cũ mà còn thu hút nhiều nhà đầu tư mới tham gia vào TTCK và lựa chọn công ty chứng khoán mà họ mở tài khoản để tiến hành giao dịch. Vì những ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn “Số lượng tài khoản giao dịch” là một trong những chỉ tiêu phân tích định lượng trong bài viết. Doanh thu từ hoạt động môi giới chứng khoán: Doanh thu là một trong các chỉ số tài chính rất quan trọng, có tác động lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần có doanh thu để chi trả chi phí vận hành, đồng thời đây cũng chính là nguồn vốn cho kỳ kinh doanh tiếp theo. Nếu doanh nghiệp có mức doanh thu ổn định, tăng trưởng đều thì dòng tiền vốn luân chuyển cũng được gia tăng. Nhờ đó, khả năng thanh khoản sẽ được cải thiện rất nhiều, tạo điều kiện quay vòng vốn, tái đầu tư vào mở rộng và phát triển doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh thu cũng cho thấy uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, chiếm được sự tin tưởng của các nhà đầu tư khác và khách hàng.
Trong môi giới chứng khoán, doanh thu hoạt động môi giới chủ yếu đến từ phí môi giới, lãi vay margin hay tiền lãi ứng trước tiền của khách hàng. Đây là chỉ tiêu định lượng đo lường mức độ thành công của việc môi giới, doanh thu càng lớn chứng tỏ hoạt động môi giới càng có hiệu quả. Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng cần được phân tích trong bài viết. Lợi nhuận từ hoạt động môi giới chứng khoán: Giống với doanh thu, lợi nhuận có lẽ là chỉ tiêu mà bất cứ một tổ chức hay doanh nghiệp nào đều nhắm đến và muốn tối đa hóa.
Lợi nhuận là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp, nó là kết quả tài chính cuối cùng khi lấy doanh thu trừ đi các chi phí liên quan như mua bán sản phẩm, thuê mặt bằng, lương, các dịch vụ…Lợi nhuận chính là mục tiêu, 6 là động cơ, cũng là động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Ở lĩnh vực môi giới chứng khoán, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa chi phí cho hoạt động môi giới chứng khoán và doanh thu môi giới chứng khoán. Để đạt được lợi nhuận tốt nhất các công ty cần phải tối đa hóa doanh thu và tối thiểu hóa chi phí. Khi kết hợp với doanh thu, lợi nhuận cho biết việc sử dụng chi phí cho hoạt động môi giới có thực sự hiệu quả không, từ đó giúp đưa ra những nhận xét, đánh giá về bản chất của doanh thu mà công ty có được.