ĐẶT VẤN ĐỀ AL ` ` Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, rừng không những cung cấp. những sản phẩm có giá trị kinh tế mà còn là một nhân tố quan trọng sóp phân duy trì cân bằng sinh thái. Tuy nhiên diện tích rừng, trên. ¡ nói chung va Việt Nam nói riêng giảm đi nhanh chóng.
Tài nguyên TH Viet Nam bi suy thoái nghiêm trọng từ năm 1943, từ 14,3 triệu ha n oy nhiên “độ che phủ 43%) năm 1943 giảm xuống đến mức thấp nhất là 9,2 triệu. ha’ (độ che phủ 21. \ % Sự mất rừng này làm tăng các ảnh hưởng, bất lợi của môi trường đến cuộc sống của con người. Cụ thể trong những năm gần đây các thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán.
xảy ra thường xuyên và kéo đài | gây thiệt hạt rất lớn cho con người. Thực trạng này đã đạt ra cho ngành Lâm Nghiệp và toàn xã hội một nhiệm vụ cấp bách là khôi phù "lại các điện tích rừng tự nhiên đã mất đồng thời tăng độ che phủ của rừng trên cả Nước. Đứng trước nhiệm vụ đó trong những năm gân đây, chính phủ đã có nhiều chương trình xúc tiến đẩy mạnh quá trình trồng rừng phủ xanh đất trống đổi núi trọc như dự án 5 triệu ha rừng.Song các chương.trình trồng rừng ở nước ta mới chỉ tập chung vào các cây nhập nội mọc nhanh, “chóng khép tán như: Keo, Bạch Đàn,. Diện tích các loài cây bản địa ngày một thu hẹp, làm cho chất lượng phòng hộ và tính bền vững của xửng không cao, Nam bat duge van để:trên trong chiến lược phát triển Lam Nghiệp, ngành Lâm Nghiệp đã chú trọng đến việc bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa: Đã cớ nhiều dự án trong nước cũng như ngoài nước về vấn đẻ phục ‘bing mo hình cây bản địa được thực hiện như: Dự án 661 được thực hiện ở xã Tụ đã huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình.
Dự án đã thực hiện được" thiền ñấm “nhữxe song vẫn chưa có nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của dự án: Để góp phần đánh giá khách quan kết quả của dự án và đẻ xuất 1 một số giải pháp lâm sinh tác động nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của mô hình trong những năm tới, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá Chương II TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU và 2.Nghiên cứu chung c 2. Trên thế giới (. Richards (1952), Catinot(1965) đã đi sâu vào | ein cấu trúc rừng bằng phẫu diện đổ các nhân tố cấu trúc được phân Íöại theo dạng sống, tầng phiến, tầng thứ.Parde ( 1961),Bet 1972), Rollét (1979) đã vận dụng thống kê toán học để nghiên cứu HA Ôn carừng, định lượng hoá các quy luật đồng thời làm cơ sở đề xuấtcác biện pháp. kỹ thuật Geogen Baur (1962, 1964, 1976) đã.
cứu các cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nhiệt đới (áp dụng cho mua: nhiên) ở các châu lục khác. wy Các nghiên cứu của Fedlimeier (1996) Ốcác rừng thứ sinh Bắc Costarica đã cho thấy sự khác biệt giữa các khu rừng thứ sinh không chỉ xuất phát từ thời gian mà những khoảng cách đến nguồn gieo giống, điều kiện thổ nhưỡng và địa hi g ảnh hưởng rất lớn đến thành phân loài và tỉ trọng của chúng. Một số các côi âu Vào ấp dụng kỹ thuật về tái sinh các loài cây gỗ địa phương bi trồng dặm trồng thêm vào rừng nghèo, rừng tái sinh kém, nhằm nâng cao trữ luong gỗ có giá trị bằng nhiều phương pháp như: “Trồng theo ra ông theo băng, trồng theo đám và trồng đưới tán che được áp dụng ở m \Ư: nh, Công gô, Camerun, Gabon,. 2 lở Việt Na Y _bhục hồi rừng ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, bắt 1980 cái được gọi là “khoanh núi nuôi rừng” mới được định hình và chuyển 3 hướng thành thuật ngữ mới là phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”.
Sự chuyển hướng đã được coi là một bước tiến mới về t nhận thức khoa học trong phòng hộ rừng và được đánh dấu bằng hai đẻ tài nghiên cứu thuộc chương trình cấp Nhà nước là: & ^ Nghiên cứu phân loại đối tượng và để xuất biện php The hồi rừng bằng khoanh nuôi, xúc tiến, tái sinh vùng lưu vực Song Đà, và nghiên cứu xác định diện tích và hệ thống biện pháp kỹ thuật cho\ _khoanh nuôi phục ` \Ä hồi rừng. iS Về vấn đề loài cây trồng trong phục hồi rửng một số tác giả đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới tạo ra các mô hình trôàÈ rừng ẩm hỗn loài như: Maurand vào đầu thập kỷ 30, Trần Nguyên Giảng (1960- 1962), Nguyễn Xuân Tiếp và Lê Xuân Tám (196321967 đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gây trồng và phục hồi cây bản địa nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình tu bổ lại tầng cây có giá trị trong lâm phầnrừ§: Đặc biệt Trần Nguyên Giảng đã xây dựng và trồng thành công rừng hỗn löài cây bản địa với cây phù trợ. Bản thân tác giả đã có báo cáo "Sơ bộ về tình hình sinh trưởng của rừng nhưng cũng chưa có đánh gị `mức đội nh ¡ hưởng của các nhân tố sinh thái cũng như mối quan hệ tượng hỗ giữa các loài cây này. Trân Văn Độ cing "Nguyễn Bá Văn thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành nghiên ‹ cứu tắi sinh cây bản địa dưới tán rừng trồng và trên đất trống tại xã Nậm ‘Lau, tỉnh Sơn La với mục tiêu so sánh khả năng tái sinh của cây bản địa dưới tán ring trồng và trên đất trống, đánh giá ảnh hưởng của mật độ rừng trồng tới khả năng tái sinh của cây bản địa.
Cũng có nhiễu công trình nghiên cứu vẻ các phương thức phục hồi rừng thứ sinh nghèo. Một số các tác giả như Bùi Đoàn, Nguyễn Bá Chất, Trân Quang Viet đã khái quát nội dung biện pháp kỹ thuật làm giàu rừng áp dụng ccho rừng tự nhiên Việt Nam. Năm 1990, Viện Khoa học ey Nam thực hiện đề tài cấp nhà nước về “Khôi phục rừng và phat uïệtTLàm Ngiiếp” Điểm qua các công trình trong nước và ngoài nước của các tác giả trên đây đã có những cống hiến đáng kể trong lĩnh vực Lâm Nghiệp: Nhưng vẫn dưới tán. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học (Canarium album) * Đặc điểm nhận biết: , Tram trang là cây gỗ lớn có thể cao đến đường kính đến 120 cm.
‘Than tròn thẳng, vỏ xám trắng, lúc già thườn; ANH - Vết vỏ đẽo có nhựa thơm hơi đục. Lá kép lông chim lẻ có 7 — 13 lá chét; my lá chét hinh trái xoan thuôn hoặc hình trứng dai 6 — 15 cm 2,5— 52 Xa đâu nhọn dần, đuôi lệch, mép nguyên mặt dưới lá thường có nhiều vữ Nắp trắng, gân bên thường có 12— 16 đôi. Có lá kèm nhỏ sớm rụng. ~ Hoa tự xim viên chuỳ hoặc chùm ởnách ở lá gân đâu cành, thường ngắn hơn lá, hoa tạp tính, đài 2,5 — 3 mm.
Ở hoa đực mép ống dài có 3 i ¡ đêu hợp. Quả hạch hình trái xoan dài 2,5 —3,5 em,khi chínbiên xanh vàng, hạch Quế có 6 múi hai đầu nhọn. * Dac tinh sinh h thái hoesy Trám trắng là (Mia hoa vào tháng 4 — 5, quả chín vào thang 10 — 12. Tram tr: ây ưa sáng có khả năng thích ứng rộng với các điều kiện đất và kí hậu ởViệt Nam, có khả năng tái sinh hạt và chổi tốt.
ca VN Tram trang phan bé từ Bắc vào Nam, thích hợp với độ cao 250 m trở xuống, địa hình hổi bátúp, độ đốc trung bình từ 10°~ 30, Nhung xuất hiện ở rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới, mọc ích hợp ở vùng có nhiệt độ từ 22,4 - 26,2°C nhiệt độ là - 1,4C, lượng mưa hàng năm từ 1500 — 1800 mm. trắng sinh trưởng trên đá mẹ phiến thạch sét, Foocfiarit, bazan, thành phần cơ giới từ cát pha đến cát sét nặng. * Giá trị > Gỗ của Trám trắng mâu xám trắng, mềm nhẹ, dễ làm, đễbị 1 mối mọt; n €Ó thể dùng làm gỗ dán lạng, làm gỗ trụ mỏ, đóng đồ dùng thông thường. Quả chín để ăn hoặc làm thuốc.
Nhựa Trám có mùi thơm ding | dé cat tinh dau, ‘lay tùng hương dùng trong công nghệ sơn, in. Nghiên cứu về loài Trám trắng (Canarium album). Năm 1958 đoàn chuyên gia Lâm nghiệp Đ tiến sĩ kinh tế học Luj. Fhaj Man dẫn đầu sang nghiên cứu sử dụngcác loài cây gỗ lá rộng mọc nhanh ở nước ta đã kết luận rằng: Trám trắng là loài cây có tỷ lệ xenlulo cao nên dùng để sản xuất giấy và ván sợi.
Năm 1962 gỗ Trám trắng (cùng với 11 loài cây khác) được đưa sang Cộng hoà dân chủ Đức phân tích thành phân hoá học, đánh giá phẩm chất nguyên liệu cho công nghiệp giấy. Hing da thực hiện đề tài cấp bộ nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, của một $ố loài cây làm giàu rừng (Trám trắng, Lim xẹt) có nhận xét: Trong tổ' thành rừng ' tự nhiên Trám trắng chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây và 6,84% về trữ lượng. Xét ở trạng thái rừng thì trạng thái IA1 Trám trắng chiết ÿ lệ cao hơn so với rừng IIIA2. Trong rừng rất hay gặp Trám trắng với 4 số cây bạn như: Kháo, Dé, Lim xet, Hu day, Xoan ta.Kết quả điều tra ở rừng được cải tạo bằng Trám trắng tại Hữu Lũng sau 27 năm cho thấy mật độ còn Tại trung bình 340 cây/ ha, đường kính trung bình 25,2 crú, chiều cao trung Đình 14 m và tăng trưởng bình quân đạt 0.93 cm/ năm về đường kính, 0,5m về chiều cao và 9,13 m về trữ lượng.
Phạm Đình ‘Tam va Trin Lam Đồng ở Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Naứt cứngđã tiểtì khài để tài “Gây trồng Trám trắng phục vụ nguyên liệu gỗ " st Số-hhậh xét về kết quả bước đầu như sau: Trám trắng là loài khấp cả 3 miễn Bắc - Trung — Nam có độ cao 10 m — 1000m-sở với ạt biển nhưng tập chung nhiều ở đai độ cao từ 30 - 50 m. Trám trắng thích hợp với vùng có nhiệt độ không khí bình quân trong năm từ 20 — 23,9 °C lượng mưa bình quân trong năm từ 1200 — 1500 mm, độ ẩm không khí từ 80 — 87%, Trám trắng sinh trưởng tốt trên cácloại đất Feralit phát triển trên các loại đá mẹ Granit, Sa thạch, Bazan, Phùxa cổ có thành. phân cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, tầng đất trung bình đến sâu. ` Trong cuốn “Kỹ thuật gây trồng cây có dâu cho giá trị kinh tế cao” Glia Pham Đình Tam đã đẻ cập tới kỹ thuật trông và thu hái Trém| Ngoài ra còn có một số luận văn, khoá luận.