Luận văn thạc sĩ đánh giá kết quả điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh bằng liệu pháp ánh sáng tại bệnh viện sản nhi bắc ninh năm 2017001

Luận văn thạc sĩ y tế phân tích đánh giá kết quả điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh bằng liệu pháp ánh sáng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2018

59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh

1.2. Cơ chế bệnh sinh vàng da tăng bilirubin gián tiếp

1.2.1. Chuyển hóa bilirubin

1.2.2. Sự hình thành bilirubin

1.2.3. Hệ liên võng nội mô

1.2.4. Các dạng tồn tại của bilirubin trong huyết tương

1.2.5. Sự tiếp nhận bilirubin của tế bào gan

1.2.6. Sự bài tiết bilirubin vào đường mật và đường ruột

1.3. Nguyên nhân vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh

1.3.1. Vàng da do tăng tan vỡ hồng cầu

1.3.2. Thiếu hoặc rối loạn chức năng các enzym kết hợp

1.3.3. Một số nguyên nhân khác

1.4. Yếu tố nguy cơ vàng da tăng bilirubin gián tiếp

1.4.1. Các yếu tố về phía mẹ

1.4.2. Các yếu tố về phía con

1.5. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng vàng da tăng bilirubin gián tiếp

1.5.1. Lâm sàng

1.5.1.1. Da vàng
1.5.1.2. Triệu chứng thần kinh
1.5.1.3. Triệu chứng khác

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.5.3. Tiến hành nghiên cứu

2.5.4. Biến số nghiên cứu

2.5.5. Theo dõi điều trị. Sai số và cách khống chế sai số

2.5.6. Xử lý và phân tích số liệu

2.5.7. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm trẻ sơ sinh vàng da tăng bilirubin gián tiếp

3.1.1. Đặc điểm chung

3.1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

3.2. Kết quả điều trị

3.3. Một số yếu tố liên quan đến thời gian chiếu đèn trung bình

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm trẻ sơ sinh vàng da tăng bilirubin gián tiếp

4.1.1. Đặc điểm chung

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

4.2. Kết quả điều trị và tác dụng phụ

4.3. Một số yếu tố liên quan đến thời gian chiếu đèn trung bình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Hiệu Quả Liệu Pháp Ánh Sáng

Liệu pháp ánh sáng là phương pháp điều trị phổ biến cho tình trạng vàng da ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là khi nồng độ bilirubin gián tiếp tăng cao. Tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của liệu pháp ánh sáng trong việc điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh. Vàng da là triệu chứng thường gặp, có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời.

1.1. Định Nghĩa Vàng Da Tăng Bilirubin Gián Tiếp

Vàng da là tình trạng da trẻ sơ sinh có màu vàng khi nồng độ bilirubin máu tăng trên 120 µmol/l. Vàng da tăng bilirubin gián tiếp thường xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau sinh và có thể trở thành bệnh lý nếu không được điều trị kịp thời.

1.2. Nguyên Nhân Gây Vàng Da Tăng Bilirubin Gián Tiếp

Nguyên nhân chính gây vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh bao gồm tăng tan vỡ hồng cầu, thiếu hoặc rối loạn chức năng các enzym kết hợp, và một số nguyên nhân khác như nhiễm trùng bẩm sinh hay bất đồng nhóm máu mẹ - con.

II. Vấn Đề Vàng Da Tăng Bilirubin Gián Tiếp Ở Trẻ Sơ Sinh

Vàng da tăng bilirubin gián tiếp là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh. Tình trạng này có thể dẫn đến nhiều biến chứng, bao gồm tổn thương hệ thần kinh và vàng da nhân não. Tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, tỷ lệ trẻ sơ sinh mắc vàng da tăng bilirubin gián tiếp khá cao, đặc biệt là ở trẻ sinh non.

2.1. Tác Động Của Vàng Da Đến Sức Khỏe Trẻ Sơ Sinh

Vàng da có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe của trẻ sơ sinh, bao gồm rối loạn vận động, giảm hoặc mất thính giác, và các vấn đề về phát triển tâm thần. Việc phát hiện và điều trị kịp thời là rất quan trọng.

2.2. Thách Thức Trong Việc Điều Trị Vàng Da

Một trong những thách thức lớn trong việc điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp là xác định đúng nguyên nhân và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Liệu pháp ánh sáng là một trong những phương pháp hiệu quả nhưng cần được áp dụng đúng cách.

III. Phương Pháp Liệu Pháp Ánh Sáng Trong Điều Trị Vàng Da

Liệu pháp ánh sáng là phương pháp điều trị chính cho vàng da tăng bilirubin gián tiếp. Phương pháp này sử dụng ánh sáng xanh để chuyển hóa bilirubin gián tiếp thành dạng có thể thải ra ngoài qua nước tiểu và phân. Tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, liệu pháp này đã được áp dụng rộng rãi và cho thấy hiệu quả cao.

3.1. Cơ Chế Hoạt Động Của Liệu Pháp Ánh Sáng

Liệu pháp ánh sáng hoạt động bằng cách chiếu ánh sáng xanh vào da trẻ sơ sinh, giúp chuyển hóa bilirubin gián tiếp thành dạng hòa tan trong nước. Quá trình này giúp giảm nồng độ bilirubin trong máu một cách nhanh chóng và hiệu quả.

3.2. Quy Trình Thực Hiện Liệu Pháp Ánh Sáng

Quy trình thực hiện liệu pháp ánh sáng bao gồm việc đặt trẻ dưới đèn chiếu sáng trong một khoảng thời gian nhất định. Cần theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe của trẻ trong suốt quá trình điều trị để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Liệu Pháp Ánh Sáng

Nghiên cứu tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh cho thấy liệu pháp ánh sáng có hiệu quả cao trong việc điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp. Tỷ lệ thành công của phương pháp này lên đến 87,8%, giúp giảm thiểu nguy cơ phải thay máu cho trẻ.

4.1. Tỷ Lệ Thành Công Của Liệu Pháp Ánh Sáng

Tỷ lệ thành công của liệu pháp ánh sáng trong điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh đạt 87,8%. Điều này cho thấy hiệu quả của phương pháp này trong việc giảm nồng độ bilirubin trong máu.

4.2. Các Tác Dụng Phụ Của Liệu Pháp Ánh Sáng

Mặc dù liệu pháp ánh sáng rất hiệu quả, nhưng cũng có thể gây ra một số tác dụng phụ như mất nước, tăng thân nhiệt, và tổn thương da. Cần theo dõi và quản lý các tác dụng phụ này trong quá trình điều trị.

V. Kết Luận Về Hiệu Quả Liệu Pháp Ánh Sáng

Liệu pháp ánh sáng là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh. Nghiên cứu tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh đã chứng minh rằng phương pháp này không chỉ giúp giảm nồng độ bilirubin mà còn giảm thiểu nguy cơ biến chứng nghiêm trọng.

5.1. Tương Lai Của Liệu Pháp Ánh Sáng Trong Điều Trị

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến liệu pháp ánh sáng để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ. Việc áp dụng công nghệ mới trong liệu pháp ánh sáng cũng cần được xem xét.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Các Bệnh Viện

Các bệnh viện cần trang bị đầy đủ thiết bị và đào tạo nhân viên y tế để thực hiện liệu pháp ánh sáng một cách hiệu quả. Cần có các hướng dẫn rõ ràng về quy trình điều trị và theo dõi bệnh nhân.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá kết quả điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh bằng liệu pháp ánh sáng tại bệnh viện sản nhi bắc ninh năm 2017001

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Vàng da sau sinh là triệu chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh, nhất là ở trẻ sơ sinh non tháng. Phần lớn các trường hợp vàng da sơ sinh là sinh lý, tuy nhiên, khi nồng độ bilirubin trong máu cao quá mức sẽ trở thành bệnh lý, có thể gây tổn thương hệ thần kinh dẫn đến tử vong trong giai đoạn cấp hoặc để lại di chứng nặng nề sau này [31]. Chỉ có một tỉ lệ nhỏ vàng da ở trẻ sơ sinh tăng bilirubin trực tiếp (TT) do viêm gan hoặc tắc mật, còn vàng da ở trẻ sơ sinh chủ yếu là do tăng bilirubin gián tiếp (GT). Tại các nước Âu – Mỹ, tỉ lệ vàng da tăng bilirubin GT bệnh lý chiếm 4- 5% tổng số trẻ sơ sinh, ở châu Á khoảng 14-16% [23].

Hằng năm ở Mỹ có khoảng 60-70% trong tổng số 4 triệu trẻ sơ sinh có triệu chứng vàng da trên lâm sàng [21]. Nghiên cứu của Wong năm 2013 ở Malaysia, tỉ lệ vàng da sơ sinh bệnh lý chiếm 16,4% [40]. Ở Việt Nam, theo Cam Ngọc Phượng vàng da sơ sinh gặp ở 50% trẻ đẻ đủ tháng và gần 100% trẻ non tháng [13]. Tại Viện Nhi Trung ương năm 2002 có 17,9% trẻ sơ sinh vào viện vì vàng da tăng bilirubin GT trong đó có 28,2% trẻ phải điều trị thay máu và 61,2% trẻ bị tổn thương thần kinh [1].

Biến chứng nguy hiểm nhất của vàng da tăng bilirubin GT là vàng da nhân não. Tại Bệnh viện Nhi đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995 gặp 147 trường hợp vàng nhân não nhưng đến năm 1997 là 238 trường hợp [15]. Có nhiều phương pháp điều trị vàng da tăng bilirubin GT nhưng liệu pháp ánh sáng là phương pháp đơn giản, an toàn, hiệu quả, dễ áp dụng và đã cứu sống được nhiều bệnh nhân vàng da tăng bilirubin GT cũng như tránh phải thay máu. Nhiều công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế đều chỉ ra rằng việc chiếu đèn sớm ngay khi phát hiện vàng da tăng bilirubin GT bệnh lý có kết quả cao và giảm được tỉ lệ thay máu [4,16].

Nghiên cứu của Tạ Thị Ánh Hoa và cộng sự (Cs) (năm 1976) về áp dụng điều trị vàng da tăng bilirubin GT ở trẻ sơ sinh bằng chiếu đèn cho kết quả khả quan [6]. Năm 2001, Ngô Minh Xuân đã nghiên cứu hiệu quả của hệ thống đèn tự tạo tại Bệnh viện Từ Dũ mang lại hiệu quả rõ rệt [15]. Năm 2008, Bùi Thị Thùy Dương nghiên cứu về hiệu quả điều trị vàng da tăng bilirubin GT bằng đèn Rạng đông ánh sáng xanh ở trẻ sơ sinh đủ tháng tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện 1 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhi Trung ương cho thấy tỉ lệ chiếu đèn thành công là 100% [4]. Năm 2009, Nguyễn Đình Học đánh giá hiệu quả của phương pháp chiếu đèn cho tỉ lệ thành công lên đến 87,8 % [5].

Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, hàng năm nhận điều trị hàng ngàn trẻ sơ sinh, trong đó có số lượng lớn trẻ vàng da tăng bilirubin GT, phương pháp chiếu đèn đã được áp dụng từ khá lâu và là phương pháp điều trị vàng da chính, tại đây vẫn chưa thực hiện được kỹ thuật thay máu. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách hệ thống, toàn diện về kết quả điều trị của phương pháp này. Do vậy, để đánh giá kết quả điều trị cũng như nâng cao chất lượng điều trị, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh bằng liệu pháp ánh sáng tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh năm 2017” nhằm hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh tại Đơn nguyên Sơ sinh – Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh.

Đánh giá kết quả điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp bằng liệu pháp ánh sáng tại Đơn nguyên Sơ sinh – Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh. 2 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vàng da tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh 1. Định nghĩa Vàng da là tình trạng da trẻ sơ sinh có màu vàng khi nồng độ bilirubin máu tăng trên 120 mol/l.

Ở trẻ sơ sinh, vàng da là triệu chứng thường gặp do nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể tăng bilirubin GT – dạng tự do không tan trong nước, khi nồng độ cao có thể gây nhiễm độc thần kinh; hoặc tăng bilirubin TT – dạng kết hợp tan trong nước, có thể đào thải ra ngoài qua nước tiểu và qua phân. Vàng da do tăng bilirubin ở trẻ sơ sinh là hiện tượng sinh lý bình thường, sẽ mất dần trong tuần đầu sau sinh. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trẻ có thể bị vàng da quá mức và trở thành vàng da bệnh lý.

Do đó, khi tiếp cận với trẻ sơ sinh có triệu chứng vàng da cần xác định rõ là vàng da sinh lý hay vàng da bệnh lý. Vàng da tăng bilirubin GT sinh lý xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau sinh do hồng cầu vỡ nhiều hơn so với lứa tuổi khác, tuổi thọ hồng cầu ngắn, chuyển từ hemoglobin bào thai (HbF) sang hemoglobin người trưởng thành (HbA) và các enzym của gan còn thiếu và hoạt tính yếu. Vàng da tăng bilirubin GT bệnh lý thường do tăng tan vỡ hồng cầu, thiếu hoặc rối loạn chức năng các enzym kết hợp hoặc do các nguyên nhân khác. Vàng da tăng bilirubin bệnh lý thường xuất hiện sớm và gặp ở những trẻ có yếu tố nguy cơ cao như: đẻ non, đẻ ra bị ngạt, mẹ tiền sử đẻ con vàng da [22].

Cơ chế bệnh sinh vàng da tăng bilirubin gián tiếp 1. Chuyển hóa bilirubin  Trong bào thai Sự chuyển hóa bilirubin trong máu thai nhi do mẹ đảm nhiệm, chỉ có một phần rất nhỏ bilirubin được biến đổi tại gan thai nhi, lượng bilirubin này được đưa xuống ruột, có trong phân su. Bilirubin xuất hiện trong dịch ối từ tuần thứ 12, sẽ biến mất vào tuần thứ 36 - 37, thường gặp 2 dạng là bilirubin GT và bilirubin axit. Sự vận chuyển bilirubin ở thai nhi chủ yếu nhờ vào liên kết với α fetoprotein rồi bài tiết bằng cách thẩm thấu vào vòng tuần hoàn mẹ 3 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua nhau thai, từ tuần thứ 20 - 30 mới thấy có dạng IX β glucuronide ở gan.

Nồng độ bilirubin trong máu từ bào thai tới nhau thai gấp 2 lần từ nhau thai trở về bào thai, chứng tỏ có một sự lọc rất hiệu quả của nhau thai từ tuần hoàn thai nhi. Do đó thai nhi hiếm khi vàng da trừ trường hợp tan máu nghiêm trọng. Tăng bilirubin GT trong nước ối, có thể được dùng để tiên lượng mức độ nghiêm trọng của bệnh tan máu do bất đồng nhóm máu mẹ - con [22].  Trẻ sơ sinh Sau khi sinh, sự chuyển hóa bilirubin GT của trẻ do mẹ đảm nhiệm trong thời kỳ bào thai mất làm xuất hiện hiện tượng tăng tan máu do đời sống hồng cầu của trẻ sơ sinh ngắn (90 ngày).

Bilirubin được sản xuất do tan máu của trẻ sơ sinh là 14,5 µmol/ngày (gấp đôi người lớn). Tại gan bilirubin tách khỏi albumin và thấm qua màng tế bào gan, ở trẻ sơ sinh bilirubin có thể vận hành qua màng theo cả hai chiều, trong khi người lớn bilirubin chỉ có thể đi vào gan mà không thể quay ngược lại. Sự chuyển hóa bilirubin ở gan trẻ sơ sinh kém hơn người lớn do số lượng các protein Y và Z ít hơn, lượng protein thấp, enzym glucuronyl transferase ít và hoạt tính yếu. Sự giáng hóa bilirubin ở ruột kém hoặc không có do thiếu các chủng vi khuẩn ở ruột, pH kiềm tại ruột non và sự có mặt của  glucuronidase đã duy trì chu trình ruột gan làm tăng tái hấp thu bilirubin.

Trẻ sơ sinh do có những đặc điểm riêng ở lứa tuổi này, nên vàng da sinh lý có thể có nồng độ bilirubin cao hơn các lứa tuổi khác [22]. Sự hình thành bilirubin Bilirubin là sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa HEM. Dưới xúc tác của enzym hem oxygenase, quá trình phân tách Fe-protoporphyrin (phát sinh từ HEM) sẽ tạo nên phân tử carbon monoxide (CO) và biliverdin. Sau phân tách, Fe được giữ lại trong cơ thể liên kết với ferritin để tái sử dụng, CO dễ dàng khuếch tán vào máu gắn với hemoglobin rồi đào thải ra ngoài qua phổi.

Biliverdin do được tách từ vị trí α của vòng Fe-protoporphyrin IX nên có công thức là biliverdin IXα. Khi được tiết vào mật, dưới sự xúc tác của enzym biliverdin reductase sẽ trở thành 4Z-15Z bilirubin IXα. Như vậy quá trình dị hóa HEM đòi hỏi các yếu tố tham gia nghiêm ngặt, nếu chỉ có một yếu tố bị thiếu hoặc rối loạn thì quá trình tổng hợp bilirubin sẽ bị ảnh hưởng [34,36]. 4 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hệ liên võng nội mô Hồng cầu (100- 125 ngày, sơ sinh 90 ngày) Hemoglobin (Myoglobin) Protoporphyrin HEM Methenyloxygenase Porphyrin MEN HEM Methenylformylase Biliverdin reductase Biliverdin Bilirubin GT Máu + Albumin Bilirubin Albumin Albumin + ProteinY- Z (Thể Cytozol) Gan MEN Liagandin Bilirubin TT Glucuronyl transferase Stercobilinogen Urobilinogen (100 - 200 mg/ ngày) (< 4 mg/ ngày) Ruột Sơ đồ chuyển hóa bilirubin 5 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Các dạng tồn tại của bilirubin trong huyết tƣơng  Bilirubin axit Bilirubin axit được tạo thành do sự gắn bilirubin với ion H phụ thuộc vào tình trạng toan máu của cơ thể. Các cầu nối với ion H+ bên trong phân tử bilirubin sẽ làm các nhóm ưa nước bị bão hòa, nên bilirubin axit không tan trong nước. Khi ở dạng axit, bilirubin dễ gắn lên màng tế bào, kể cả màng hồng cầu gây tan máu. Bilirubin axit là một dạng độc, gây tổn thương não ở trẻ sơ sinh [20,34].

 Bilirubin gián tiếp (bilirubin tự do, dạng anion hay dianion) Trong môi trường kiềm, cầu nối ion H+ của phân tử bilirubin dễ bị phá vỡ và mang điện tích âm. Vì vậy bilirubin dễ dàng gắn với phosphatidylcholin (lecethin) và ngấm qua màng tế bào, màng nhau thai, hàng rào máu não, nếu như không được gắn với albumin máu [39]. Sự tiếp nhận bilirubin của tế bào gan Khi đến gan, bilirubin GT được vận chuyển vào các tế bào gan, nơi mà nó liên kết để gắn với ligandin (γ-protein), gentathione transferase B và một phần với các protein khác, nên không thể di chuyển ngược về huyết tương mà còn tăng khả năng kết hợp để thành bilirubin TT. Bilirubin được liên kết với acid glucuronic trong tế bào gan bởi enzym uridine diphosphoglucuronosyl transferase thành một phân tử hòa tan trong nước, bài tiết vào đường mật và thải ra ngoài [36].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ