Chương 1 TONG QUAN VE ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA SỬ DỤNG NƯỚC CUA HỆ THONG TƯỚI. quả sử dụng nước trong việc tưới, đến nay, có nhiễu phương và công cụ cũng như phương thức. Các phương pháp này khá hữu dung trong đảnh giá sự hoạt động cia các hệ thông tới. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế khi áp dụng những phương pháp này.
ad và Podmore (1989) đã định nghĩa một đại lượng, gọi la "sắp nước tương đối". Đại lượng này là tỷ số giữa lượng cấp (gồm lượng nước tưới công với lượng mưa) và yêu cầu (gồm bắc thoát hơi nước cộng với lượng nước r rỉ và thim sâu) để đánh giá xem mức độ nước tưới hia được quản lý tốt như thé nào dưới các mức cắp khác nhau Molden và Gates (1990) đã định nghĩa các mục tiêu hệ thông phân nước tưới, gồm độ chính xác, hiệu quả, độ in cây và sự công bằng của việc phân nước và đã phát triển các phương pháp đo sự hoạt động bằng các thuật ngữ cho phép phân tích. hiệu quả của các hệ thống phân nước tưới phục vụ các mục đích đánh giá, quy hoạch và thiết kế, Các phương pháp này cung cắp một sự đính giá định lượng không chỉ sự hoạt động của toàn hệ thống mà côn đánh giá xem sự hoạt động này có thể bị hạn chế bởi sự kém cồi của công tinh và/hoặc của quản lý. Sakthivadivel và đồng nghiệp (1993) đã thảo luận sự hữu ích và việc sử dung khái niệm "cấp nước tương đối - RWS" để đánh giá sự hoạt động của các hệ thing tưới với sự đề cập đặc biệt đến các hệ thống tưới lúa.
Về mặt khái niệm, khái niệm. này được định nghĩa là tỷ. giữa nước cấp với yêu cầu nước liên kết với các cây trồng thực tế được sinh trưởng với các biện pháp canh tác thực tế được dùng và cho một khu tưới thực tế. Mặc dù những thuận lợi của khái niệm là tig lợi cho phân tich và lâm sáng tô các khoảng thời gian và vị trí khác nhau, nhưng các giá trị RWS đối với các khoảng thời gian dai hơn lại biểu lộ một vải sự mâu thị Đồ là bởi vì khái niệm này không xem xét sự trữ trên mộng lúa tong mùa sinh trưởng của y trồng Đi khắc phục hạn chế này, khái sm “Cấp nước tương đối luỹ tích - CRW: cđược giới thiệu.
CRWS được định nghĩa là giá trị luỹ tích của phần nước cấp so với yêu cầu được tinh toán trong các khoảng thời gian ngắn (vi dụ tuần hoặc ngày) bắt đầu từ một thời gian cụ thé trong mùa. Thuận lợi chính của CRWS so với RWS là nó có thể được dùng để miêu tả sinh động tỷ lệ nước cấp với yêu cầu nước đầy ý nghĩa cho cả mùa, trong khi đó RWS chỉ hữu dụng cho nh giá tỷ lệ cho một giai đoạn cụ thé trong mùa. Mặc dù có những thuận lợi như đã nói ở trên, nhưng những khái niệm này chỉ có thé được dùng để đánh giá sự hoạt động của hệ thống tưới trong đồ chỉ xem xét đến nông nghiệp được tưới. Trong những trường hợp mà có nhiều loại hình sử dụng nước Khe như nước sinh hoạt và cây mọc hoang thi những khi niệm này bị hạn chế Murray — Rust và Snellen (1993) đã định nghĩa sự hoạt động, mục đích, mục.
tiêu và các chỉ số hoạt động của một hệ thống tưới và gợi ý một khung đảnh giá sự hoạt động và phản đoán dựa trên cúc định nghĩa này. Bos và đồng nghiệp (1993) đã cung cấp một khung mà những nhà quản lý tưới có thé sử dụng để đánh giá hoạt động tưới đựa trên khung đánh giá do Murray-Rust và Snellen (1993) đã gợi ý, Có thể thấy ring khung đánh giá và các chỉ số được got ý ởtrên nhằm vio các mục tiêu dự kiến để ra và mức độ đạt được chúng trong quá trình hoạt động thực tế của hệ thống tưới. Các chỉ số được nhận ra trong các loại hình khác nhau để chỉ ra các khia cạnh đạt được từ sự hoạt động của hệ thống tưới theo một cách thực chỉ tiết hơn. Phương thức này hữu ich cho việc đảnh gid sự hoạt động ở mức độ hệ thong.
“Tuy nhiên, có một số khô khăn. những mục tiêu nào sẽ được lựa chọn trong các quá trình đánh giá sự hoạt động của hệ thống cũng như những sự thay đổi trong các mục ti sẽ dẫn tới vệ cần phải xem xét lạ. Hơn nữa, sự thụ nước. thực tế trong các hệ thống tưới không được chỉ ra một cách rõ rằng.
Một số loại hình sử dụng nước khác (từ thực vật tự nhiên trong khu tưới, từ các khu vườn, từ sinh hoạt, công nghiệp, v.) không được kể đến trong cách đánh giả này. Vì vậy hiệu quả sử dụng nước trong hệ thống tưới vẫn chưa được đánh giá đầy đủ hơn. Bos (1997) tóm tắt các chỉ số hoạt động được dùng trong Chương trình nghiên. cứu về sự hoạt động tưới, trong đồ có khoảng 40 chỉ số hoạt động da nguyên tắc được định lượng và khảo sát, dựa trên tập chỉ số hoạt động được Bos và đồng nghiệp (1993) miêu tả.
Các chỉ số này rit phù hợp cho sử dụng trong đánh giá sự hoạt động tưới tiêu. Các nghiên cứu trước đây và các chỉ số hiệu qua sử dụng nước được định nghĩa vẫn quan tâm đến hiệu quả sử dụng nước liên quan đến các yếu dong chảy, đ và năng suấUsản lượng cây trồng (trong đó chủ yết đề cập đến khả năng đáp. ứng tiêu chuẩn và mục tiêu dat ra), Các chi số này khá có ý nghĩa đối với những người quản lý hệ thống tưới - những người quan tâm đến việc vận hành hệ thông. Tuy nhiên, những nghiền cứu trước đây chưa chủ trong vào mỗi liên ‘quan giữa nước, đất và giá trị đầu ra.
Thực chất mà nói, đổi với một hệ thống tưới, hiệu quả sử dụng nước của nó phải được đánh giá ở khía cạnh giá tỉ kinh tẾ cho một đơn vị nước và vấn đề này đã được R.Sakthivadivel và đồng nghiệp (1999) nghiên cứu, 1.2 Phương pháp đánh giá theo chỉ tiêu: Tháng 5/1994 hội thảo vùng Châu A-Thái Bình Dương về "đánh giá hiệu quả. tưới trong nền nông nghiệp bn vũn" tại Bangkok (Thai Lan) các chuyên gia đã nhất trí vỀ các thông số đánh giá hiệu qua tưới. Tuy ring mỗi nước có các mục tiêu khác nhau tùy theo điều kiện của hệ thống tưới khác nhau. “Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả tưới gồm: 1.
Hệ thống phân phổi nước (bao gồm công trình trên kênh). = Hiệu qui vận chuyển nước ở các cắp kênh ~ Hiệu quả phân phổi nước. lồi lắng và cỏ rác 2. Hiệu quả tưới mặt ruộng ~ Hệ số quay vòng đất ~ Hiệu quả sử dụng nước.
Hiệu quả môi trường trong hệ thông tưới ~ Mức độ nhiễm mặn, kiểm hóa. + Chất lượng nước mặt, nước ngằm - Ngập ứng ~ C6 dai trong kênh có nước đọng 4. Hiệu quả xãh ~ Lao động. - Sở hữu mộng đất = Giới trong hoạt động tưới ~ Sự thỏa mãn của nông dân.
Hiệu quả đa mục iêu “Thường được vận dụng tắt cả các các chí tiêu đánh giá niêu trên. Hiệu quả về kinh tế ~ Ma rộng diện ích gieo trồng ing năng sĩ it ~ Tăng sản lượng, - Tăng thu nhập Tuy nhiên việc xác định một số thong số chưa rõ rằng (gi, si hữu ruộng đắt ), chưa có 1 quy định cụ thể nao cho việc xác định các thông số nảy vì vậy đây là 1 hạn ché trong việc đánh giả hiệu quả của hệ thông tưới 1.13 Phương pháp ké toin nước ên nước dang hạn chế, đồ là một yêu cầu tăng cường quản lý tài nguyên nước tốt hơn trên toàn thé lới. Điều này đặc biệt “đúng khi tắt cả hoặc gần như tất cả nguồn nước trong một lưu vực đã được phân phối cho các sử dụng khác nhau. Những chiến dich có hi quả dang giành được nhiều số lượng trong khi duy trì hoặc cải thiện môi trường sẽ được thành hệ thông.
[Nae thải và những sử dung không sinh lợi cần phải được nghiên cứu cin thận để nhận dạng những cơ hội tết kiệm tiềm tàng. Những quy trình phân phối hiệu quả là giảm thiểu và giáp giải quyết những xung đột cần được phan tích và thự hiện. Trợ giúp trong khi hoàn thành nhiệm vụ này, những quy trình được cải tiện, Ké toán cho sử dụng tài nguyên nước và hiệu suất được dé ra. Do kiểu và quy mô sử dụng rit khác nhau, truyỄn đạt thông tin vỀ nước của các nhà chuyên môn và không có chuyên môn là hoàn toàn khó khăn, những quy định về chính sách thường được thực hiện với một sự hiểu biết không rõ rằng về tim quan trong cho tit cả những người dùng nước, Cạnh tranh do sự cung cấp nước hạn chế đang gia tăng, nó biển thành sự gia tăng nghiệm trong đối với sự truyền đạt rõ ring về nước sẽ được sử dung ra sao và nguồn nước được phân phối ra sao với những tác động của các kiểu sử dụng nước như biện nay, Hiện nay, một số quốc gia trên th giới các nhà khoa học đã thực hiện đánh giá hiệu qua sử dụng nước bing phương pháp Kế toán nước và cho ra nhưng kết qua đánh giá khá sắt thực và giải thich được thục trang sử đụng nước ti vùng nghiên cứu.
Ở An Độ, năm 1989 đã xuất bản 2 tác phim“ tiêu chuẩn đo đạc quản lý vận hành hệ thống tw "va * giảm sát đánh giá hệ thống tưới”. Tiếp sau đó các chuyên gia Ấn độ và IWMI đã đánh giá hệ thống tưới Sirsa có sự trợ giúp của công nghệ viễn thám và các mô hình thủy lực, đánh giá hệ thông tưới Bhakra với sự trợ. giấp của công nghệ viễn thim và hệ thống thông tn địa lý (GIS). Để ning cao hiệu ‘qua tuới nồi chung va ey thé là đảm bảo độ tin cây trong việc phân phối nước cho người sử dụng, nhiều hệ thống tưới ở An Độ, cả các hệ thông đang hoạt động và hệ.
thống mới xây dựng đã tiến hành nâng cao quản lý nước bằng cách quan trắc và điều bảnh các công tình. và các thông số từ xa.